Thư Viện Tài Liệu Tổng Hợp

TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu tổng hợp hoàn toàn miễn phí dành cho mọi người

Hãy sử dụng chức năng tìm kiếm bên dưới để tìm tài liệu trước khi post yêu cầu liên diễn đàn!

Loading

+ Viết bài mới  + Trả lời bài viết
 
LinkBack Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 04-12-2012, 07:42 AM
Senior Member
 
Tham gia: Apr 2012
Tổng số bài gởi: 6,701
Thanks: 6
Thanked 441 Times in 357 Posts
Send a message via Yahoo to die


Chương XII: Hoạt động kiểm tra của bộ máy hành chính nhà nước đối với hoạt động hành

Chương XII: Hoạt động kiểm tra của bộ máy hành chính nhà nước đối với hoạt động hành chính nhà nước - GS.TS Phạm Hồng Thái và GS.TS Đinh Văn Mậu

Đây là toàn bộ file Giáo trình Giáo trình Luật hành chính và tài phán hành chính Việt Nam do GS. TS Phạm Hồng Thái và GS.TS Đinh Văn Mậu biên soạn. Sưu tầm từ hanhchinh.com.vn

Các văn bản pháp luật mới nhất về cán bộ, công chức, công vụ và Hành chính vui lòng cập nhật tại đây

CHƯƠNG XII. HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA CỦA BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

I - Hoạt động kiểm tra, thanh tra của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước thẩm quyền chung

Hoạt động thanh tra, kiểm tra của những cơ quan quản lý hành chính nhà nước thẩm quyền chung, ở những nét cơ bản đều tương tự nhau về bản chất, căn cứ, phạm vi, hình thức, và phương pháp. Hoạt động thanh tra, kiểm tra của Chính phủ và Uỷ ban nhân dân được đặc trưng bởi tính trực thuộc của các đối tượng bị thanh tra, kiểm tra đối với những cơ quan đó, do đó mang tính chất nội bộ.

Phạm vi kiểm tra, thanh tra bao hàm mọi vấn đề thuộc mọi ngành và lĩnh vực quản lý. Vì vậy, Chính phủ, Uỷ ban nhân dân có thể kiểm tra, thanh tra bất kỳ một hoạt động nào của đối tượng bị quản lý, có thể tiến hành thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất khi phát hiện những vi phạm.

Hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý thẩm quyền chung tiến hành dưới nhiều hình thức: nghe báo cáo, đánh giá báo cáo của đối tượng thanh tra, kiểm tra; tự tổ chức các đoàn thanh tra tổng hợp hoặc về từng vấn đề; hoặc thông qua Thanh tra Nhà nước, thanh tra bộ, sở.

Do tính trực thuộc của đối tượng thanh tra và chủ thể thanh tra, kiểm tra, mà hoạt động thanh tra, kiểm tra của Chính phủ, Uỷ ban nhân dân có tính quyền lực cao; nó có quyền ra quyết định quản lý hành chính nhà nước bắt buộc đối tượng thanh tra, kiểm tra phải thi hành; có quyền đình chỉ, bãi bỏ các quyết định trái pháp luật, hoặc sai trái của đối tượng bị kiểm tra, thanh tra, khi cần có thể áp dụng các biện pháp kỷ luật đối với cả những người có chức vụ hoặc đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc.

II - Kiểm tra chức năng và kiểm tra nội bộ

1. Kiểm tra chức năng

Kiểm tra chức năng là hoạt động kiểm tra do các cơ quan quản lý ngành, hay lĩnh vực (Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý ngành hay lĩnh vực) thực hiện đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị không trực thuộc mình về mặt tổ chức trong việc chấp hành pháp luật, đường lối chính sách và các quy tắc quản lý về ngành hay lĩnh vực do mình quản lý thống nhất trong cả nước.

Khi tiến hành kiểm tra theo chức năng, các cơ quan kiểm tra có quyền ra quyết định yêu cầu cơ quan bị kiểm tra cùng cấp đình chỉ, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định trái pháp luật của cơ quan đó, nhưng không có quyền tự mình đình chỉ, sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định đó, cũng không có quyền áp dụng các chế tài kỷ luật, phạt hành chính, trừ trường hợp cơ quan kiểm tra chức năng đó có chức năng là cơ quan thanh tra nhà nước chuyên ngành. Chẳng hạn: Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực có quyền kiến nghị với Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ những quy định do cơ quan đó ban hành trái với các văn bản pháp luật của nhà nước hoặc của bộ về ngành, lĩnh vực do bộ phụ trách. Nếu cơ quan nhận được kiến nghị không nhất trí thì trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Nhưng đối với cơ quan cấp dưới, có thể đình chỉ những văn bản trái pháp luật do cơ quan đó ban hành và đề nghị thủ trưởng cấp trên trực tiếp của mình bãi bỏ. Ví dụ: Bộ trưởng có quyền đình chỉ việc thi hành và đề nghị Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ những quy định của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trái với văn bản của bộ về ngành, lĩnh vực do bộ phụ trách và chịu trách nhiệm về quyết định đình chỉ đó. Khi có tranh chấp giữa cơ quan kiểm tra chức năng và đối tượng bị kiểm tra, về nguyên tắc, đối tượng bị kiểm tra chấp hành nhưng có quyền kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Nhìn chung, vấn đề này được quy định khá cụ thể trong Luật tổ chức Chính phủ và các văn bản pháp luật khác về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền các cơ quan quản lý hành chính nhà nước.

2. Kiểm tra nội bộ

Kiểm tra nội bộ là nhiệm vụ, chức năng của mọi cơ quan quản lý hành chính nhà nước.

Khái niệm kiểm tra nội bộ chỉ hoạt động kiểm tra trong nội bộ ngành, một cơ quan, tổ chức do thủ trưởng cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực, thủ trưởng các cơ quan, tổ chức, đơn vị cơ sở của nhà nước tiến hành. Hoạt động này thể hiện tính trực thuộc chặt chẽ giữa chủ thể và đối tượng bị kiểm tra, phạm vi kiểm tra bao quát mọi hoạt động, mọi vấn đề thuộc nhiệm vụ chức năng của cơ quan cấp dưới, nhân viên dưới quyền. Thủ trưởng cơ quan có thể trực tiếp kiểm tra hoặc lập ra tổ chức giúp thủ trưởng kiểm tra.

Khi tiến hành kiểm tra, thủ trưởng cơ quan hoặc tổ chức kiểm tra có quyền áp dụng mọi hình thức và biện pháp thuộc quyền hạn của thủ trưởng như: khen thưởng cơ quan, cá nhân có thành tích, kỷ luật cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm, ra quyết định đình chỉ hoặc bãi bỏ các quyết định sai trái của cấp dưới, đình chỉ hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật, kể cả các biện pháp kiểm kê, kiểm soát, kê biên, niêm phong tài sản, tài liệu...

III - Hoạt động thanh tra nhà nước

Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý hành chính nhà nước; là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thể tự kiểm tra, thanh tra, hoặc thông qua cơ quan chuyên trách do mình thành lập nên. Nhìn chung, hoạt động thanh tra chủ yếu do cơ quan Thanh tra nhà nước thực hiện.

Hệ thống thanh tra nhà nước có hai hệ thống: hệ thống thứ nhất gồm Thanh tra Nhà nước của Chính phủ, thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Uỷ ban nhân dân cùng cấp; Thanh tra huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh của Uỷ ban nhân dân cùng cấp và hệ thống thanh tra của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý và ngành hay lĩnh vực (sau đây gọi chung là thanh tra bộ), thanh tra sở trực thuộc giám đốc sở. Hệ thống thanh tra bộ, sở có hai loại thanh tra chức năng và thanh tra thuộc nội bộ cơ quan. Chức năng thanh tra nhà nước ở xã, phường, thị trấn do Uỷ ban nhân dân cùng cấp trực tiếp đảm nhiệm.

Theo Pháp lệnh Thanh tra ngày 29-3-1990, các cơ quan thanh tra nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc trực thuộc hai chiều, trực thuộc hệ thống Tổng Thanh tra Nhà nước và Bộ trưởng hoặc Uỷ ban nhân dân. Đối với thanh tra sở còn một chiều trực thuộc nữa là trực thuộc thanh tra bộ (chịu sự hướng dẫn về nghiệp vụ của thanh tra bộ).

Thanh tra nhà nước và cơ quan thuộc hệ thống hành pháp. Vì vậy, khi cần thiết, Hội đồng Nhà nước (nay là Uỷ ban Thường vụ Quốc hội) cử các thanh tra hoặc thành lập uỷ ban lâm thời để xem xét các vụ, việc nhất định (Điều 2 Pháp lệnh thanh tra).

Theo Điều 8 Pháp lệnh thanh tra, các tổ chức thanh tra nhà nước có nhiệm vụ, quyền hạn như sau:

- Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, trừ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, kiểm sát của các cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án và việc giải quyết tranh chấp kinh tế xử lý vi phạm pháp luật hợp đồng kinh tế;

- Xét xử, kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết hoặc giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo;

- Trong phạm vi chức năng của mình, chỉ đạo về tổ chức và hoạt động thanh tra đối với cơ quan, tổ chức hữu quan;

- Tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện pháp luật về thanh tra;

- Kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền những vấn đề quản lý hành chính nhà nước cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các quy định phù hợp với yêu cầu của quản lý hành chính nhà nước.

Như vậy, so với trước đây, hoạt động thanh tra có tính độc lập và được giao thêm quyền hạn giải quyết các khiếu nại, tố cáo.

Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trên, trong quá trình thanh tra, các tổ chức thanh tra nhà nước có quyền:

- Yêu cầu cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin cần thiết phục vụ cho việc thanh tra; yêu cầu cơ quan, đơn vị hữu quan cử người tham gia hoạt động thanh tra;

- Trưng cầu giám định;

- Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp tài liệu báo cáo bằng văn bản, trả lời những chất vấn của tổ chức thanh tra hoặc thanh tra viên; khi cần thiết tiến hành kiểm kê tài sản;

- Quyết định niêm phong tài liệu, kê biên tài sản, khi có căn cứ để nhận định có vi phạm pháp luật; ra quyết định yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép được cấp hoặc được sử dụng trái pháp luật khi xét thấy cần ngăn chặn ngay việc vi phạm pháp luật hoặc để xác minh tình tiết làm chứng cứ cho việc kết luận, xử lý;

- Đình chỉ việc làm xét thấy đang hoặc sẽ gây tác hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân;

- Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định kỷ luật, thuyên chuyển công tác người đang công tác với tổ thanh tra hoặc đang là đối tượng thanh tra, nếu xét thấy việc thi hành quyết định gây trở ngại cho việc thanh tra;

- Cảnh cáo, tạm đình chỉ công tác nhân viên nhà nước cố ý cản trở việc thanh tra hoặc không thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định của tổ chức thanh tra hoặc thanh tra viên;

- Kết luận, kiến nghị hoặc quyết định xử lý theo quy định của pháp luật;

- Chuyển hồ sơ về việc vi phạm pháp luật sang cơ quan điều tra hình sự có thẩm quyền giải quyết, nếu xét thấy có dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Tổng Thanh tra Nhà nước, chánh thanh tra tỉnh, huyện còn có quyền tạm đình chỉ quyết định xử lý tương ứng của Bộ trưởng, giám đốc sở, trưởng phòng ban cấp huyện và của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp nếu quyết định đó đang bị khiếu nại, tố cáo để xét xử giải quyết trong thời hạn tương ứng với từng cấp (90, 60 và 30 ngày).

Thanh tra Nhà nước, thanh tra bộ, thanh tra tỉnh còn có quyền đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ kiến nghị, quyết định sai trái của tổ chức thanh tra nhà nước cấp dưới, đối với thanh tra bộ - của cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý trực tiếp của Bộ trưởng.

Thanh tra viên khi thực hiện nhiệm vụ của mình có thẩm quyền được quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và khoản 8 Điều 9 Pháp lệnh thanh tra, ngoài ra còn có quyền: Tạm đình chỉ việc làm xét thấy đang hoặc sẽ gây tác hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân, đồng thời báo cáo ngay cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Đối với thanh tra viên Thanh tra Nhà nước chuyên ngành còn có quyền xử phạt vi phạm hành chính, phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 200.000 đ đối với những vi phạm làm cản trở công tác thanh tra, tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, b và d khoản 3 Điều 12 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.

Chánh thanh tra chuyên ngành cấp sở có quyền: phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 20.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; tịch thu tang vật, phương tiện được áp dụng để vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, d khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.

Hoạt động thanh tra là hoạt động chuyên trách bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước phải tiến hành dựa trên các nguyên tắc: pháp chế xã hội chủ nghĩa, chính xác, khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời.

Pháp lệnh thanh tra quy định khá cụ thể thủ tục thanh tra và các vấn đề khác có liên quan tới hoạt động thanh tra.

Thủ tục thanh tra bao gồm các giai đoạn:

- Ra quyết định tiến hành thanh tra: Việc ra quyết định tiến hành thanh tra phải dựa vào các căn cứ: chương trình, kế hoạch thanh tra lập ra theo yêu cầu của công tác quản lý của cơ quan nhà nước; yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền của cơ quan nhà nước, tổ chức thanh tra; những vụ, việc được thủ trưởng cơ quan quản lý hành chính nhà nước, thủ trưởng tổ chức thanh tra cấp trên giao; do tổ chức thanh tra tự phát hiện có vi phạm pháp luật trong phạm vi trách nhiệm của mình.

Quyết định tiến hành thanh tra phải ghi rõ nội dung, thời hạn thanh tra.

- Tiến hành thanh tra:

Quyết định thanh tra do đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên thực hiện. Đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng để ra các quyết định xử lý đúng đắn. Vì vậy, khi tiến hành thanh tra cần thu thập các thông tin nhiều chiều, toàn diện, khách quan, chính xác.

- Ra quyết định kiến nghị, kết luận về kết quả thanh tra: Đây là giai đoạn trọng tâm của quá trình thanh tra.

- Thực hiện quyết định thanh tra: khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định thanh tra. Thời hạn giải quyết khiếu nại đối với yêu cầu, kiến nghị quyết định về thanh tra là 30 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại và trong thời hạn đó phải trả lời cho đương sự. Nếu đương sự còn khiếu nại tiếp thì giải quyết theo trình tự do pháp luật khiếu nại, tố cáo quy định.

Đổi mới tổ chức thanh tra nhà nước theo chế độ thủ trưởng, tăng cường quyền hạn cho thanh tra, quy định thủ tục thanh tra đã góp phần quan trọng tăng cường hoạt động bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong hoạt động hành chính nhà nước. Nhưng việc giao đồng thời chức năng quản lý công tác thanh tra và chức năng giải quyết khiếu nại, tố cáo (chức năng mang tính tài phán hành chính) cho một cơ quan thuộc hệ thống hành pháp là chưa phù hợp. Hơn nữa, giữa chức năng của thanh tra và viện kiểm sát trên thực tế chưa được phân định rõ ràng. Đây cũng là một căn cứ để đề nghị thành lập cơ quan tài phán hành chính độc lập với toà án tư pháp, các cơ quan hành chính địa phương để phán xét tính hợp pháp các quyết định quản lý hành chính nhà nước, các hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức mà một bên khác là công dân, cơ quan, tổ chức.

Trong công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước, cần hoàn thiện pháp luật về công tác kiểm tra, kiểm sát, thanh tra và giám sát đối với hệ thống hành chính, tạo ra cơ chế hợp lý, khoa học để sao cho mọi hành vi, quyết định quản lý hành chính nhà nước của mọi cơ quan hành chính đều bị kiểm soát và xử lý nhanh chóng các vi phạm pháp luật trong hệ thống hành chính, nhằm tăng cường pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động, trách nhiệm của bộ máy hành chính đối với nhân dân.

IV - Kiểm toán nhà nước - một hình thức kiểm tra đối với hoạt động hành chính về mặt tài chính

Kiểm toán nhà nước - cơ quan nhà nước đặc thù, được thành lập để giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế nhà nước và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp (Điều 1 Nghị định số 70/CP ngày 11-7-1994 của Chính phủ về việc thành lập cơ quan Kiểm toán Nhà nước).

Hoạt động kiểm toán nhà nước bao gồm: Kiểm toán nhà nước; kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ. Trong đó kiểm toán của nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng. Đó là hoạt động của quyền lực hành chính nhà nước, được thực hiện bởi các cơ quan kiểm toán nhà nước với những quyền hạn và nghĩa vụ do pháp luật quy định đối với những đơn vị được kiểm toán. Nhà nước sử dụng kiểm toán như một công cụ nhằm tăng cường chức năng kiểm tra, giám sát việc quản lý, phân bổ và sử dụng toàn bộ ngân sách nhà nước; thông qua hoạt động kiểm toán, Nhà nước kiểm tra, nhận xét, đánh giá tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và báo cáo quyết toán thu chi của ngân sách nhà nước, từ đó đánh giá được hiệu quả của việc chi tiêu ngân sách nhà nước.

Hoạt động hành chính rất đa dạng và phong phú trên mọi lĩnh vực và là đối tượng kiểm tra, giám sát của nhiều cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân (giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, kiểm tra, thanh tra, kiểm sát...) nhưng không một cơ quan nào có phạm vi và đối tượng kiểm tra, giám sát như cơ quan kiểm toán. Theo Điều 2 Quyết định số 61/TTg ngày 24-1-1995 của Thủ tướng Chính phủ, phạm vi và đối tượng của kiểm toán Nhà nước là kiểm toán các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán ngân sách của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trước khi trình hội đồng nhân dân và tổng quyết toán ngân sách nhà nước của Chính phủ trước khi trình Quốc hội, báo cáo quyết toán của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan thuộc Quốc hội, toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, các đơn vị sự nghiệp, các đoàn thể, quần chúng, các tổ chức xã hội có sử dụng kinh phí nhà nước, báo cáo quyết toán của các chương trình, dự án, công trình đầu tư của Nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước... theo kế hoạch hàng năm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và các nhiệm vụ đột xuất do Thủ tướng Chính phủ giao hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu. Như vậy, phạm vi, đối tượng kiểm tra của Kiểm toán Nhà nước là tất cả các cơ quan, đơn vị sử dụng kinh phí nhà nước, trong đó cơ bản và có số lượng lớn nhất là các cơ quan hành chính nhà nước. Nói cách khác, Kiểm toán Nhà nước chủ yếu nhằm vào hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, mọi hoạt động gắn với tài chính nhà nước của chúng là đối tượng kiểm tra của Kiểm toán Nhà nước.

Cơ quan Kiểm toán Nhà nước không kiểm tra, giám sát mọi mặt hoạt động của cơ quan hành chính mà chỉ kiểm tra việc sử dụng ngân sách nhà nước của các cơ quan nhà nước. Nghĩa là, mọi hoạt động gắn với ngân sách nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước là đối tượng kiểm tra cơ bản, chủ yếu của kiểm toán nhà nước. Hệ thống các cơ quan kiểm toán gồm: Kiểm kê ngân sách nhà nước; kiểm toán đầu tư xây dựng cơ bản và chương trình, dự án, vay nợ, viện trợ Chính phủ; kiểm toán doanh nghiệp nhà nước; kiểm toán chương trình đặc biệt (an ninh, quốc phòng, dự trữ quốc gia...).

Thực hiện hoạt động kiểm toán, Kiểm toán Nhà nước không mang quyền lực hành chính như một số cơ quan khác của nhà nước. Khi thực hiện nhiệm vụ, Kiểm toán Nhà nước chỉ tuân theo pháp luật và phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ đã được Nhà nước quy định, có quyền yêu cầu đơn vị được kiểm toán và các đơn vị có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán, đồng thời góp ý kiến với các đơn vị được kiểm toán sửa chữa những sai sót, vi phạm để chấn chỉnh công tác quản lý tài chính, kế toán của đơn vị; kiến nghị với cấp của thẩm quyền xử lý vi phạm chế độ kế toán, tài chính nhà nước. Thông qua hoạt động của mình, Kiểm toán Nhà nước phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức nhà nước, xã hội, tổ chức kinh tế trong việc sử dụng ngân sách nhà nước, làm cơ sở để các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý theo thẩm quyền, qua đó mà pháp chế và kỷ luật trong lĩnh vực quản lý tài chính, ngân sách nhà nước được bảo đảm.


View more random threads same category:
Trả Lời Với Trích Dẫn