Thư Viện Tài Liệu Tổng Hợp

TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu tổng hợp hoàn toàn miễn phí dành cho mọi người

Hãy sử dụng chức năng tìm kiếm bên dưới để tìm tài liệu trước khi post yêu cầu liên diễn đàn!

Loading

VanMau.VN - Thư viện văn mẫu Việt Nam
+ Viết bài mới  + Trả lời bài viết
 
LinkBack Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 04-10-2012, 03:00 PM
Senior Member
 
Tham gia: Apr 2012
Tổng số bài gởi: 8,890
Send a message via Yahoo to die


Chính thể cộng hòa đại nghị ở Đức (phần 2)

2.3.2 Cơ quan hành pháp:

a. Tổng thống liên bang:

Tổng thống liên bang là nguyên thủ quốc gia, đứng đầu cơ quan hành pháp, có vai trò giống như các vị vua trong chính thể quân chủ lập hiến, nghĩa là chỉ mang tính nghi thức.

Tổng thống do Hội nghị liên bang bầu, nhiệm kì 5 năm, mỗi người không quá 2 nhiệm kì liên tục.( Hội nghị liên bang gồm một nửa là các hạ nghị sỹ và một nửa là các thành viên do nghị viện các bang bầu ra. Tổng số thành viên của Hội nghị hiện nay là 672 +672 =1344. Hình thức bầu cử lầ bỏ phiếu kín không qua bầu cử)

Ứng cử viên Tổng thống phải là Hạ nghị sỹ, 40 tuổi trở lên.

Tổng thống phải từ bỏ đảng phái, không được tham gia các cơ quan khác, không được kinh doanh

Hạ viện có quyền kiện Tổng thống qua Tòa án Hiến pháp liên bang và có thể phế truất Tổng thống.

Quyền hạn:

* Hiến pháp quy định rõ quyền hạn của Tổng thống:

* Đại diện Liên bang trong và ngoài nước

* Kiểm tra, kí và công bố luật

* Tuyên bố tình trạng khẩn cấp về lập pháp

* Đề nghị, bổ nhiệm và miễn nhiệm Thủ tướng. Thực tế: Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng nhưng phải dựa vào đa số Nghị viện, nên thường đó là lãnh tụ Đảng chiếm đa số trong Hạ viện.

* Bổ nhiệm và miễn nhiệm các Bộ trưởng theo đề nghị của Thủ tướng

* Bổ nhiệm và miến nhiệm các thẩm phán Liên bang, công chức liên bang

* Có quyền ân xá...

Chức danh Tổng thống gắn liền với các nhiệm vụ có tính cách đại diện hơn là các thẩm quyền quyết định các công việc nhà nước, vì:

- Các quyết định của Tổng thống luôn tuân theo ý chí của đa số tại Hạ viện.

- Để các quyết định của Tổng thống có giá trị, phải có sự phê chuẩn của Thủ tướng hoặc các Bộ trưởng liên quan (chữ kí phó thự)

- Tổng thống có quyền tuyên bố tình trạng khẩn cấp với sự đề nghị củaThủ tường và sự chấp nhận của Thượng viện.

b. Chính phủ Liên bang:

Cách thức thành lập Chính phủ:

- Theo luật định, với đa số phiếu Hạ viện sẽ đề cử Thủ tướng, sau đó Tổng thống bổ nhiệm, nhưng đó không là ai khác ngoài thủ lĩnh đảng đa số trong hạ viện.

- Theo đề nghị của Thủ tướng, Tổng thống bổ nhiệm các thành viên khác của Chính phủ. Thông thường, các Bộ trưởng là người của các Đảng thắng cử

Thủ tướng và các Bộ trưởng không được đảm nhiệm các nhiệm vụ trả lương khác nếu không được phép của Hạ viện.

Thẩm quyền:

- Đề nghị dự luật, yêu cầu các Uỷ ban của Hạ viện họp để xem xét các dự luật, yêu cầu bổ sung hay giảm các khoản chi ngân sách

- Yêu cầu Tổng thống tuyên bố các trạng thái pháp lí đối với các dự luật bị Nghị viện bác bỏ

- Trực tiếp quản lí các công việc: đối ngoại, tài chính liên bang, giao thông, thành lập các cơ quan bảo vệ biên giới, cảnh sát, tình báo và an ninh, bảo vệ an ninh quốc gia

- Trong trường hợp nguy cấp, Chính phủ đè nghị 2 viện họp khẩn cấp tuyên bố tình trạng chiến tranh, Thủ tướng sẽ là Tư lệnh các lực lượng vũ trang

Cụ thể:

- Thủ tướng đề ra các hướng dẫn chung, các Bộ trưởng điều hành công việc một cách độc lập

- Thủ tướng không có quyến can thiệp trực tiếp vào công việc của các bộ, nhưng các Bộ trưởng phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng

Sự kìm chế lẫn nhau giữa Hạ viện và Chính phủ:

Thủ tướng thiết có thể đề nghị Hạ viện bỏ phiếu bất tín nhiệm với Chính phủ, nếu không được đáp ứng, có thể đề nghị Tổng thống giải thể Hạ viện trong 21 ngày.

+ Quyền giải thể Hạ viện sẽ không còn nếu hạ viện bằng đa số phiếu bầu ra thủ tướng mới.

+ Nhiệm vụ của phe đối lập trong Hạ viện là kiểm tra, giám sát, tìm những điểm yếu để phê phán Chính phủ.

+ Hạ viện và Chính phủ có thể lật đổ lẫn nhau dựa trên nguyên tắc "Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Hạ viện" và " Hạ viện phải bầu được Chính phủ"

Tóm lại sự tồn tại của Chính phủ không chỉ phụ thuộc vào năng lực hoạt động của mình cả vào sự tín nhiệm của Hạ viện.
2.3.3 Cơ quan tư pháp:

a. Tòa án Hiến pháp liên bang:

- Vị trí: Là thiết chế độc lập và ngang bằng với Nghị viện và Chính phủ, lập ra để bảo vệ Hiến pháp

- Chức năng:

+ Giải thích Hiến pháp

+ Xét xử tranh chấp giữa Liên bang với các bang, giữa các bang với nhau

+ Quyết định về tính hợp hiến của các đạo luật Liên bang và các bang, tính vi hiến của các Đảng

+ Xét xử các khiếu kiện về bầu cử, quyền và nghĩa vụ công dân

+ Có thể giải tán một Đảng nếu Đảng đó đe dọa nền tự do dân chủ

- Cơ cấu:

+ Tòa án Hiến pháp gồm 2 viện: Tòa thượng thẩm và Tòa Sơ thẩm

+ Mỗi viện có 8 thẩm phán, một nửa do Hạ viện, một nửa do Thượng viện bầu ra

+ Thẩm phán có nhiệm kì 12 năm, tuổi không dưới 40 và không quá 68 (Theo điều 4 khoản 3 của bộ Luật về Tòa án Hiến pháp Liên bang, độ tuổi 68 là ranh giới cho các thẩm phán. Nhiệm kỳ của một thẩm phán chấm dứt khi hết tháng mà thẩm phán tròn 68 tuổi. Thế nhưng người thẩm phán này vẫn tiếp tục thi hành chức vụ cho đến khi một người kế nhiệm được bổ nhiệm). Thẩm phán không được tham gia Quốc hội hay Chính phủ, nhưng họ có thể tham gia giảng dạy ở các trường Đại học và nghiên cứu khoa học.

- Là cơ quan hiến pháp, Tòa án Hiến pháp Liên bang không chịu sự kiểm tra và chỉ thị của cơ quan nhà nước.

b. Tòa án Tối cao Liên bang

Tòa án Tối cao Liên bang chia thành 5 Tòa án độc lập nhưng có hội đồng chung để đảm bảo sự thống nhất:

Tài phán thường xét xử các vụ việc dân sự và hình sự và các vấn đề của Tòa án tự nguyện, bao gồm Tòa án khu vực, Tòa án bang, Tòa án cấp cao và Tòa án tối cao. Khoảng ¾ thẩm phán làm việc trong tòa án này.

Tài phán lao động có thẩm quyền về các tranh chấp giữa các đối tác về tiền lương, giữa chủ và thợ cũng như về vấn đề của quyền tham gia. Có Tòa án lao động, Tòa án lao động bang và Tòa ná lao động Liên bang.

Tài phán tài chính và tài phán xã hội với vị trí là các lĩnh vực đặc biệt được tách ra khỏi tài phán hành chính chung. Các Tòa án tài chính và tòa án tài chính Liên bang xét xử các tranh chấp công quyền trong lĩnh vực quản lí tài chính. Các vấn đề tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp pháp luật về chữa bệnh theo bảo hiểm, chính sách đối với nạn nhân chiến tranh và về pháp luật về tiền cho trẻ em được giải quyết tại Tòa án xã hội,Tòa án xã hội bang và Tòa án xã hội Liên bang.

c. Tòa án hành chính

Ở Cộng hoà liên bang Đức, Toà án hành chính được xây dựng thành hệ thống độc lập với Toà án tư pháp cũng như các Toà án khác.

- Về tổ chức:

Toà án hành chính được tổ chức theo 3 cấp xét xử:

- Toà án hành chính sơ thẩm: thành lập theo địa dư quận, huyện.

Toà án hành chính phúc thẩm: thành lập theo địa dư tỉnh.

Toà án hành chính tối cao: thuộc liên bang.

- Về thẩm quyền:

+ Toà án hành chính giải quyết các khiếu nại thuộc thẩm quyền của cơ quan tài phán hành chính, bao gồm tất cả những tranh chấp về luật công mà không có đặc điểm liên quan đến hiến pháp và không được đạo luật của liên bang giao cho các Toà án khác.

+ Trường hợp tranh chấp thẩm quyền giữa các Toà án thì Toà án chung giải quyết để xác định thẩm quyền.

. - Về Thẩm phán:

+ CHLB Đức có chung một đội ngũ Thẩm phán, trong đó các Thẩm phán chuyên về tư pháp và các Thẩm phán chuyên về hành chính. Họ được đào tạo gần như nhau và có 2 tiêu chuẩn: đã tốt nghiệp Đại học Luật và có quá trình thực tập để bồi dưỡng nghiệp vụ (6 tháng thực tập luật Dân sự, 6 tháng thực tập luật Hình sự, 6 tháng thực tập luật hành chính, 6 tháng thực tập ở các toà án khác), kết thúc quá trình thực tập là một kỳ thi quốc gia.

+ Việc bổ nhiệm các Thẩm phán Toà án hành chính phúc thẩm và Toà án hành chính tối cao do một Ban tuyển chọn Thẩm phán tiến hành, trình Tổng thống bổ nhiệm. Ban tuyển chọn Thẩm phán bao gồm: Bộ trưởng Tư pháp liên bang, 16 Bộ trưởng Tư pháp bang và 17 nghị sĩ Quốc hội do Tổng thống chỉ định.
3. Phân tích sự mềm dẻo trong chính thể cộng hòa đại nghị.

Phân tích dấu hiệu chính thể cộng hoà đại nghị, nhiều nhà nghiên cứu luật học và chính trị học cho rằng, chính thể cộng hoà đại nghị là chính thể có nhiều đặc điểm giống như chính thể quân chủ đại nghị, chỉ khác về nguyên thủ quốc gia. Nếu nguyên thủ quốc gia được hình thành do thế tập, truyền ngôi thì gọi là quân chủ đại nghị và nếu được hình thành thông qua bầu cử (thường là dựa trên cơ sở của Nghị viện) thì được gọi là cộng hoà đại nghị.

Vì vậy, cộng hoà đại nghị là chính thể được tổ chức ở những nhà nước có nguyên thủ quốc gia do Nghị viện bầu ra,Chính phủ do Thủ tướng đứng đầu không chịu trách nhiệm trước nguyên thủ quốc gia, mà chỉ chịu trách nhiệm trước Nghị viện.

Bên cạnh việc đồng ý với những dấu hiệu trên, có tác giả còn cho rằng, một số dấu hiệu không thể thiếu được của chính thể này, đó là việc tuyên bố nguyên tắc quyền lực tối cao của Nghị viện thành chế độ đại nghị; có chức danh Thủ tướng vàsự tham gia một cách hình thức của nguyên thủ quốc gia vào việc thành lập chính phủ; nguyên thủ quốc gia được hiến pháp quy định rất nhiều quyền hạn, nhưng trên thực tế không trực tiếp tham gia vào việc giải quyết các công việc của nhà nước.

Nguyên thủ quốc gia của chính thể này được thành lập dựa trên cơ sở của Nghị viện, do Nghị viện bầu ra, hoặc dựa trên cơ sở của Nghị viện (có thêm các thành phần khác như là đại diện của các lãnh địa trực thuộc), mà không do nhân dân trực tiếp bầu ra. Chính việc không do nhân dân trực tiếp bầu ra Tổng thống, theo quan điểm của các nhà luật học, là nguyên nhân không cho phép nguyên thủ quốc gia có thực quyền.

Ở tất cả các nước theo chính thể này, hiến pháp (hoặc tục lệ) không quy định nguyên thủ quốc gia là người đứng đầu hành pháp và cũng không là thành viên của hành pháp. Nếu có quy định đi chăng nữa thì nguyên thủ quốc gia không bao giờ thực hiện được một cách đích thực những quyền này.

3.1 Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện

Cũng giống như đặc điểm hình thành nên chính thể quân chủ đại nghị, chính phủ – hành pháp, trung tâm của bộ máy nhà nước được hình thành dựa trên cơ sở của Nghị viện, nên Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Đây là đặc điểm chính yếu của chính thể đại nghị, kể cả cộng hoà đại nghị lẫn của quân chủ đại nghị.

Nguyên tắc “Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước nghị viện” là cơ sở cho việc Nghị viện có thể lật đổ Chính phủ và người đứng đầu Chính phủ có quyền hoặc yêu cầu nguyên thủ quốc gia giải tán Nghị viện.

3.2 Còn Tổng thống thì vô trách nhiệm

Về cơ bản, các nước theo chính thể cộng hoà đại nghị, giống như các nước theo chính thể quân chủ đại nghị, đều tuyên bố nguyên tắc: nguyên thủ quốc gia “không chịu trách nhiệm”. Như, Điều 90 của Hiến pháp Italia tuyên bố: “Tổng thống nước cộng hoà không chịu trách nhiệm các hoạt động của mình trong thời gian đảm nhiệm chức vụ, trừ trường hợp phản bội Tổ quốc hoặc hành động xâm phạm tới Hiến pháp”. Hiến pháp của Hy Lạp cũng quy định một điều khoản tương tự (Khoản 1 Điều 49). Bên cạnh thông lệ này, còn có nước vẫn quy định trách nhiệm của nguyên thủ quốc gia. Ví dụ, Hiến pháp của nước Cộng hoà Áo quy định việc chịu trách nhiệm của nguyên thủ quốc gia: “Tổng thống liên bang chịu trách nhiệm việc thực hiện chức năng của mình trước Quốc hội liên bang” (Điều 142).

Nói chung, khi bàn về nhiệm vụ, quyền hạn của nguyên thủ quốc gia ở chính thể cộng hoà đại nghị, thực chất nguyên thủ quốc gia không tham gia vào việc lãnh đạo quốc gia, không có quyền đích thực ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và cũng không có những quyền hạn đặc biệt nào. Trong tác phẩm của mình, Bayme viết: “Chức danh Tổng thống Cộng hoà Liên bang Đức gắn liền với nhiệm vụ có tính cách đại diện hơn là thẩm quyền quyết định các công việc của nhà nước”.

Nguyên thủ quốc gia trong chính thể cộng hoà đại nghị không khác nào địa vị của nhà vua hoặc nữ hoàng trong chính thể quân chủ đại nghị, theo nguyên tắc:

“Nhà Vua trị vì nhưng không cai trị”

Một số hiến pháp quy định tính trung lập không đảng phái của nguyên thủ quốc gia ở loại hình chính thể này, để tỏ rõ sự vô tư của nguyên thủ quốc gia. Khi một người được bầu làm tổng thống thì người đó phải từ bỏ đảng phái (CHLB Đức, Italia). Nhưng trên thực tế, quy định này rất khó thực hiện. Bởi vì, việc được bầu vào chức danh tổng thống, trước hết bắt đầu bằng việc được đảng giới thiệu ra ứng cử tổng thống, hoặc chí ít phải được sự ủng hộ của đảng khi ra tranh cử.

Đặc biệt, khi phân tích chế định “phó thự”, có thể thấy rằng, nguyên thủ quốc gia không thể hoạt động trung lập. Mọi văn bản của Tổng thống chỉ có hiệu lực thực thi trên thực tế khi có chữ ký “phó thự” của các hàm bộ trưởng hoặc trên bộ trưởng (Thủ tướng người đứng đầu bộ máy hành pháp). Quy định này đã tước hẳn quyền quyết định đích thực của Tổng thống. Và cũng chính vì vậy, Tổng thống mới có cơ sở “là vô trách nhiệm”, chính người ký phó thự mới là người chịu trách nhiệm văn bản do Tổng thống ban hành. Theo thông lệ, không thể bắt người không có quyền lại phải đứng ra gánh chịu trách nhiệm.

3.3 Nhưng vẫn cần có nguyên thủ quốc gia

Về mối quan hệ giữa nguyên thủ quốc gia với chính phủ, đa số các nước tư sản theo loại hình chính thể cộng hoà đại nghị đều quy định Tổng thống có quyền bổ nhiệm người đứng đầu chính phủ. Nhưng quy định bổ nhiệm và tiêu chuẩn của người đứng đầu chính phủ như thế nào lại không được pháp luật quy định rõ.

Thay cho sự thiếu hụt này của hiến pháp thành văn là quy định của tập tục không thành văn: Người đứng đầu bộ máy hành pháp phải có sự ủng hộ của đa số nghị sĩ trong nghị viện. Hay nói một cách khác hơn, nguyên thủ quốc gia – Tổng thống nước cộng hoà đại nghị – không thể bổ nhiệm một người nào đó khác hơn là thủ lĩnh của đảng chiếm đa số ghế trong nghị trường làm người đứng đầu bộ máy hành pháp.

Những điều phân tích trên có bao hàm nghĩa, nguyên thủ quốc gia không còn một vị trí vai trò nào đích thực trong chính thể đại nghị. Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, vai trò của nguyên thủ quốc gia của chính thể cộng hoà đại nghị cũng như của nhà vua trong chính thể quân chủ đại nghị chỉ có thể được đánh giá cao trongnhững trường hợp đất nước bị khủng hoảng. Trong tình trạng khủng hoảng, Tổng thống mới có điều kiện độc lập hành động mà không phụ thuộc vào các đảng phái chính trị. Nguyên thủ quốc gia như là một chế định tiềm tàng của nhà nước hòng giải quyết những tình trạng khủng hoảng chính trị có thể xảy ra.

Theo quy định của Hiến pháp Cộng hoà Liên bang Đức, Tổng thống liên bang có quyền đề nghị ứng cử viên Thủ tướng để Hạ nghị viện bỏ phiếu. Trong vòng 14 ngày, nếu ứng cử viên của Tổng thống không nhận được đa số tuyệt đối số phiếu thuận thì Hạ nghị viện có quyền bầu ứng cử viên của mình. Trong trường hợp vẫn không bầu được Thủ tướng, Tổng thống có quyền bổ nhiệm Thủ tướng theo ý mình người nào có nhiều phiếu hơn hoặc giải tán Hạ nghị viện.

Nói tóm lại, ở loại hình chính thể cộng hoà đại nghị có nhiều đặc điểm cơ bản như chính thể quân chủ đại nghị, chỉ khác chính thể quân chủ ở chỗ, nguyên thủ quốc gia không do thế tập truyền ngôi, mà do Nghị viện hoặc dựa trên cơ sở nghị viện bầu ra, mặc dù được hiến pháp quy định là một quyền hạn hết sức rộng rãi, nhưng mọi hoạt động của nguyên thủ đều có sự đề nghị, yêu cầu từ phía hành pháp. Nhánh hành pháp cùng với người đứng đầu hành pháp ngày càng trở thành cơ quan trung tâm thực hiện chủ yếu quyền lực nhà nước, được thành lập dựa trên cơ sở của Nghị viện và phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện; Chính phủ – hành pháp chỉ được hoạt động khi vẫn còn sự tín nhiệm của Nghị viện. Khi không còn sự tín nhiệm, thì chính phủ có thể bị lật đổ và kèm theo đó, Nghị viện có thể bị giải tán. Đó cũng là những dấu hiệu quan trọng của chế độ quân chủ đại nghị.

4. Những biểu hiện về sự đối trọng giữa lập pháp và hành pháp.

Sự đối trọng giữa lập pháp và hành pháp thể hiện qua mối quan hệ chằng chịt, kiểm soát và giới hạn quyền lực lẫn nhau giữa Hạ viện – Thủ tướng liên bang, Hạ viện – Tổng thống, Thượng viện – Hạ viện

4.1 Hạ viện kiểm soát Chính phủ - đứng đầu là Thủ tướng:

- Hạ viện tuyển cử Thủ tướng (hình thức là Tổng thống đề nghị nhưng phải được đa số tuyệt đối (2/3) Hạ viện chấp thuận thì Tổng thống mới được bổ nhiệm)

- “Được tuyển chọn ai là người hội đủ số phiếu đa số (tuyệt đối) các thành viên Hạ Viện (Bundestag). Người được chọn phải được Tổng Thống bổ nhiệm” (Điều 63, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD).

- Hạ viện có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm Thủ tướng

- “ Hạ Viện có thể bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Thủ Tướng liên bang, khi…” (Điều 67, đoạn 1, id.).

4.2 Tổng thống có quyền giải tán Nghị viện trước thời hạn

Trong các trường hợp

- Hạ viện không tuyển chọn được Thủ tướng liên bang trong vòng 21 ngày sau ngày tổng tuyển cử

- “ Nếu người được đề cử không được tuyển chọn, Hạ Viện ( Bundestag) trong vòng mười bốn ngày sau lần bỏ phiếu, có thể chọn một Thủ Tướng liên bang khác với đa số thành viên của mình ”.

- “ Nếu Hạ Viện không tổ chức được một cuộc bỏ phiếu nào trong thời gian vừa kể, cần phải tức khắc tổ chức một cuộc tuyển cử mới, trong đó ai được phiếu nhiều nhứt sẽ được tuyển chọn. Nếu người được tuyển chọn hội đủ phiếu của đa số thành viên Hạ Viện (đa số tuyệt đối), Tổng Thống liên bang phải bổ nhiệm trong vòng bảy ngày kể từ ngày được bỏ phiếu. Nếu người được tuyển chọn không hội đủ đa số phiếu vừa kể ( tức là chỉ được đa số tương đối), trong vòng bảy ngày Tổng Thống liên bang phải bổ nhiệm ông hoặc Tổng Thống có thể giải tán Hạ Viện” (Điều 63, đoạn 3 và 4 Hiến Pháp 1949 CHLBD).

- Hạ viện bỏ phiếu bất tín nhiệm Thủ tướng nhưng không tuyển chọn được Thủ tướng khác với đa số tuyệt đối trong vòng 21 ngày sau đó (Điều 68, khoản 1)

- “ Hạ Viện có thể tuyên bố bất tín nhiệm Thủ Tướng liên bang chỉ khi nào Hạ Viện tuyển chọn được một vị thay thê với đa số phiếu (đa số tuyệt đối) các thành viên Hạ Viện và yêu cầu Tổng Thống liên bang thu hồi chức vụ Thủ Tướng. Tổng Thống phải thoả mãn lời yêu cầu nầy và bổ nhiệm vị vừa được tuyển chọn” (Điều 67, Hiến Pháp 1949 CHLBD).

4.3 Thượng viện kiểm soát Hạ viện & Chính phủ

- Một đạo luật do Hạ viện thông qua phải được sự chấp thuận của Thượng viện thì mới có hiệu lực

- “ Luật pháp liên bang được Hạ Viện ban hành. Sau khi đạo luật được chuẩn y, vị Chủ Tịch Hạ Viện phải lập tức chuyển đến Thượng Viện ” ( Điều 77 đoạn 1, Hiến Pháp 1949 CHLBD) .

Điều này nhàm mục đích tránh được sự cấu kết giữa Hạ viện và Chính phủ

Chính Quyền liên bang không thể đưa ra Nghị Định, Pháp Lệnh, Dự Án Luật tự mình hay ỷ thế “ cả vú lấp miệng em”, dựa vào đa số đồng thuận, toa rập ở Hạ Viện “ ban hành ” đạo luật nào và áp dụng cách nào tùy hỷ, nếu không muốn bị Viện Bảo Hiến phán quyết là hành vi bất chính, vi hiến và bị bắt buộc phải từ chức:

- “ Viện Bảo Hiến liên bang sẽ quyết định trong trường hợp bất đồng ý kiến hay nghi vấn về tính cách thích hợp thuyết lý hay thực hữu giữa luật pháp Liên Bang hay luật pháp các Tiểu Bang đối với Hiến Pháp nầy, nếu có lời yêu cầu của Chính Quyền liên bang, Chính Quyền của một Tiểu Bang hay 1/3 thành viên Hạ Viện” (Điều 93, đoạn 2, id.).

- Thủ tướng đề nghị Tổng thống tuyên bố “tình trạng lập pháp khẩn trương” đối với một dự thảo luật mà Hạ viện bác bỏ

- Các điều kiện để đi đến giải pháp vừa kể được điều 81 xác định:

* “ Nếu trong trường hợp được điều 68 tiên liệu Hạ Viện không bị giải tán, Tổng Thống liên bang, theo lời yêu cầu của Chính Phủ , cùng với sự đồng thuận của Thượng Viện ( Bundesrat), có thể tuyên bố “ tình trạng lập pháp khẩn trương”, đối với dự thảo luật mà Hạ Viện bác bỏ, mặc dầu Chính Phủ tuyên bố là khẩn cấp. Cũng vậy, đối với một dự án luật bị bác bỏ, mặc dầu Thủ Tướng liên bang đặt liên hệ giữa dự án và tính cách khả dĩ áp dụng lý lẽ của điều 68.

* “ Nếu Hạ Viện lại bác bỏ dự án một lần nữa, sau khi “ tình trạng lập pháp khẩn trương” được tuyên bố, hoặc được Hạ Viện biểu quyết chấp thuận theo văn mạch mà Chính Phủ coi là không thể chấp nhận được, dự án luật sẽ được coi là luật đã được biểu quyết tán đồng, nếu được Thượng Viện đồng thuận. Điều nầy cũng được coi là có giá trị đối với một dự án luật không được Hạ Viện biểu quyết chấp thuận, sau bốn tuần lễ, kể từ ngày được đệ trình”.

- “ Trong thời gian tại chức của một Thủ Tướng, suốt khoảng thời gian sáu tháng kể từ ngày “ tình trạng lập pháp khẩn trương ” được tuyên bố, bất cứ dự án luật nào bị Hạ Viện bác bỏ, đều sẽ được coi là đồng thuận chuẩn y, theo tinh thần của đoạn 1 và 2. Hết sáu tháng vừa kể, trong nhiệm kỳ của một Thủ Tướng, không thể chấp nhận một lần công bố thứ hai “ tình trạng lập pháp khẩn trương” thêm nữa” (Điều 81, đoạn 1, 2 và 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD).

- Điều này cho thấy Thượng viện là bảo chứng cho Chính Quyền liên bang khỏi bị áp lực của Hạ Viện
III. Kết luận và bài học rút ra từ mô hình chính thể cộng hòa đại nghị ở Đức

Thế chế Nhân Bản và Dân Chủ: con người được tôn trọng trên nhân phẩm của mình và người dân là chủ nhân thực sự của đất nước

- “ Phẩm giá con người bất khả xâm phạm…

- “Các quyền căn bản sẽ được kể sau đây có giá trị bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là quyền bắt buộc trực tiếp ” (Điều 1, đoạn 1 và 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, CHLBD).

- Hai nguyên tắc vừa kể được các vị soạn thảo Hiến Pháp 1949 quyết định bảo đảm bằng mọi giá, kể cả việc chống lại 2/3 số phiếu đồng thuận của Hạ Viện và Thượng Viện, hay cả trưng cầu dân ý cũng không có quyền sửa đổi:

- “ Không thể chấp nhận bất cứ một sự sửa đổi nào đối với Hiến Pháp nầy liên quan đến mối tương quan giữa Liên Bang và các Tiểu Bang, đến sự tham dự vào quyền lập pháp của các Tiểu Bang hay đến các nguyên tắc được tuyên bố trong các điều khoản 1 và 20 ” (Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD).

- Đặt con người với nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của mình vào chính thân bài của Hiến Pháp, viết thành điều khoản luật thực định ( loi positive), bắt buộc phải thực thi

- Đặt vào điều khoản đầu tiên, điều 1 của Hiến Pháp, để long trọng tuyên bố như là những giá trị tối thượng bất khả xâm phạm.

- Quy trách trực tiếp cho cơ chế Quốc Gia phải bảo đảm và tạo điều kiện để thực hiện và phát huy,

- Tuyên bố nguyên tắc Nhân Bản và Dân Chủ thành những qui luật bắt buộc (normes préceptives) và đạo luật thực định ( lois positives), điều 79 Hiến Pháp 1949 CHLBD, bất di dịch và bắt buộc phải tuân theo vô điều kiện,

1. Bảo đảm bộ máy nhà nước vững chắc, hoạt động đều hòa, không thiên vị.

2. Kiểm soát bộ máy nhà nước không thể hành xử quyền lực Quốc Gia độc tài.

3. Bảo đảm Chính phủ không bị các thành phần vô trách nhiệm cản trở, phá hoại.

(Điểm 2-3-4 khắc phục được khuyết điểm của Hiến pháp Weimar, bị Hitler khai thác lật đổ chính quyền dân chủ thiết lập chế độ độc tài)

Trả Lời Với Trích Dẫn