Thư Viện Tài Liệu Tổng Hợp

TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu tổng hợp hoàn toàn miễn phí dành cho mọi người

Hãy sử dụng chức năng tìm kiếm bên dưới để tìm tài liệu trước khi post yêu cầu liên diễn đàn!

Loading

VanMau.VN - Thư viện văn mẫu Việt Nam
 
 
LinkBack Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Prev Previous Post   Next Post Next
  #1  
Old 02-20-2013, 12:15 AM
Junior Member
 
Tham gia: Feb 2013
Tổng số bài gởi: 2


chế độ hôn nhân không bình đẳng trong pháp luật phong kiến Việt Nam

A/ LỜI MỞ ĐẦU
Hôn nhân – gia đình là một trong những vấn đề nổi trội của xã hội, nên chế định này đã được các nhà làm luật trên thế giới, ghi nhận ngay trong những bộ luật đầu tiên của nhân loại như: bộ luật Hammurabi của Lưỡng Hà, bộ luật Manu của Ấn Độ … Đặc biệt, là sự ảnh hưởng của nho giáo và pháp luật phong kiến Trung Hoa, nên pháp luật phong kiến Việt Nam có sự tiếp thu phát triển. Bên cạnh đó, những quy định của pháp luật nước ta có sự sáng tạo, độc lập với pháp luật các nước khác, tiêu biểu trong lĩnh vực hôn nhân. Ở nước ta, chế độ hôn nhân được xác lập theo nguyên tắc không tự do, phụ quyền, gia trưởng, đa thê – không bình đẳng. Trong phạm vi bài luận này, em xin đi sâu trình bày nguyên tắc hôn nhân không bình đẳng trong pháp luật phong kiến nước ta.
B/ NỘI DUNG
I/ VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ HÔN NHÂN
“Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”. Nhà làm luật khi đưa ra khái niệm hôn nhân đều xuất phát từ vị trí của hôn nhân là một thiết chế xã hội (social institution): “Việc một người đàn ông và một người đàn bà cam kết sống chung với nhau với những quyền và nghĩa vụ đối với nhau cũng như đối với con cái”. Trong thời kì phong kiến, hôn nhân ở một số nước Châu Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng là sự thể chế hóa những quan điểm ,lễ nghi nho giáo. Mà hôn nhân không tự do, đa thê và xác lập chế độ gia đình phụ quyền, gia trưởng là nguyên tắc cơ bản, nổi trội trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình của pháp luật phong kiến Việt Nam(được quy định trong các bộ luật của Việt Nam thời phong kiến, tiêu biểu là Quốc triều hình luật(QTHL) và Hoàng việt luật lệ(HVLL)).
II/ CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN KHÔNG BÌNH ĐẲNG TRONG PHÁP LUẬT PHONG KIẾN VIỆT NAM
1. Trong quan hệ chồng - vợ
Quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân là mối quan hệ tương tác, hai chiều giữa vợ và chồng. Luật pháp chủ yếu nhìn nhận dưới 2 góc độ: nhân thân và tài sản.
a.Về quan hệ nhân thân:
a.1, Duy trì và bảo vệ chế độ đa thê
Vì quyền lợi của gia đình, duy trì sự trường tồn thịnh vượng của gia đình nên pháp luật phong kiến khuyến khích chế độ đa thê để gia đình có nhiều con cháu. Để thực hiện được chế độ đa thê, phải giữ được trật tự , kỉ cương trong gia đình. Trật tự đó phải được xác lập trước hết là giữa những người vợ, tức là giữa vợ cả với vợ lẽ, với nàng hầu. Mặc dù được pháp luật khuyến khích và bảo vệ song mỗi người đàn ông chỉ có quyền có một người vợ cả. Khi có vợ cả rồi thì mới được lấy vợ lẽ hoặc thiếp. Trật tự thê, thiếp không thể thay đổi, đảo lộn được. Điều này được bảo vệ cả bằng phong tục tập quán và pháp luật. Nho giáo đưa ra quan điểm này nhằm bảo đảm lợi ích của đại gia đình phong kiến, bảo vệ tôn ti trật tự, sự ổn định trong gia đình, được quy định tại điều 309 Quốc triều hình luật: “Ai lấy nàng hầu làm vợ thì xử tội phạt…” hay trong sơ đồ đại gia đình “cửu tộc” của Hoành việt luật lệ về mối quan hệ vợ cả, vợ lẽ. Những quy định này thể hiện sử phân biệt địa vị thê, thiếp và tác dụng của nó trong việc giữ gìn trật tự trong gia đình.
a.2, Nghĩa vụ của vợ - chồng
Sau khi kết hôn, người con gái thường về ở nhà chồng.Từ đó nảy sinh nhiều mối quan hệ mới, trong đó quan hệ vợ chồng đóng vai trò trung tâm. Theo quy định của pháp luật, vợ chồng có các nghĩa vụ sau: đồng cư, chung thủy, tòng phu và một số quyền và nghĩa vụ khác. Với sự chi phối của nho giáo, pháp luật có xu hướng thiên về quyền lợi pháp lí của người chồng, bảo vệ quyền lợi của người chồng với tư cách là gia trưởng nên việc thực hiện nghĩa vụ giữa 2 người không ngang bằng nhau. Cụ thể là:
* Nghĩa vụ đồng cư:

Nghĩa vụ này là đòi hỏi của nho giáo, buộc người vợ có nghĩa vụ phải ở chung với chồng, không được tự ý rời bỏ nhà chồng đi nơi khác. Trong mối quan hệ này, chồng có thể bỏ vợ, nhưng vợ không được tự tuyệt giao với chồng. Theo điều 108HVLL, nếu vợ bỏ chồng mà trốn đi phạt 100 trượng đồ 3 năm. Chồng đem gả bán nhân lúc đó vợ bỏ trốn tự cải giá thì phạt treo cổ giam chờ. So với luật triều Lê, quy định này đã ràng buộc người phụ nữ chặt chẽ hơn. Tại điều 321 QTHL quy định: “Vợ cả, vợ lẽ tự tiện bỏ nhà chồng đi thì xử tội đồ làm xuy thất tùy, đi mà lấy chồng khác thì phải đồ làm thung thất tỳ; người và gia sản phải trả về nhà chồng cũ…” Những hành vi vi phạm nghĩa vụ này, sẽ bị trường phạt rất nặng, vì nó ảnh hưởng đến uy quyền của người chồng, danh dự của dòng họ. Trong khi đó, nghĩa vụ đồng cư đặt ra cho người chồng theo hạn định: “Nếu chồng đi 3 năm không về, thì cho phép thưa lên quan, chấp chiếu cho đi cải giá, cũng không đòi tiền cưới”( điều 108 - lệ 2). Trong Hồng Đức thiên chính thư có lệnh, cấm mọi trường hợp nhà gái bắt ức người con trai phải ở rể hết 3 năm. Ngược lại, trong luật Gia Long quy định 3 trường hợp ở rể là: lệ thuộc nhiều vào pháp luật Trung Hoa.Chiêu tế dưỡng lão, nghĩa tế, ở rể làm việc để trừ chi phí việc cưới. Như vậy, những quy định về nghĩa vụ đồng cư trong hệ thống pháp luật phong kiến nước ta mang tính tuyệt đối , chặt chẽ hơn, thể hiện tính dân tộc, sáng tạo, không còn phụ thuộc vào pháp luật phong kiến Trung Hoa.
* Nghĩa vụ chung thủy
Nghĩa vụ này chỉ đặt ra đối với người vợ mà không đòi hỏi người chồng phải thực hiện, vì người chồng đương nhiên có quyền đa thê. Sự chung thủy này nhằm đảm bảo con người vợ sinh ra luôn là con của chồng mình. Đó là mục đích chính của hôn nhân phong kiến, sinh con nối dõi tông đường. Vì thế, hành vi ngoại tình của người vợ bị trừng phạt rất nghiêm khắc, được xếp là một trong “thất xuất” buộc người chồng phải bỏ vợ. Điều 332 HVLL quy định: Tiết hạnh chủ yếu quy định đối với người vợ, chồng có quyền gả bán vợ nếu vợ mắc tội thông gian. Hay trong điều 401 QTHL: “ … Vợ cả, vợ lẽ phạm tội đều xử tội lưu, điền sản trả lại cho người chồng”.
Đồng thời, luật cũng đưa ra một số điền khoản hạn chế người chồng như: cấm chồng gả bán vợ cho gian phu… (điều 254 HVLL).
* Nghĩa vụ tòng phu
Là khái niệm rộng quy định nghĩa vụ theo chồng, hết lòng vì chồng và gia đình chồng của người vợ.
Vợ có nghĩa vụ để tang cha mẹ, họ hàng nhà chồng, thờ phụng tổ tiên bên chồng, tôn trọng trật tự thê thiếp. Vợ đánh, mắng xâm hại đến bề trên hoặc tôn trưởng bên chồng đều xử nặng…(điều 284, 289,290 HVLL). Theo quan điểm nho giáo, người vợ phải phụ thuộc vào chồng, phải kính phục, phải tôn trọng và nghe lời chồng, không được làm trái ý chồng. Người vợ không được ghen tuông, cậy thế lấn át chồng, đánh chồng. Sự phục tùng buộc người vợ phải thực hiện đầy đủ, trọn vẹn các nghĩa vụ với các thành viên trong gia đình chồng như chính chồng. Sự phụ thuộc này còn buộc người vợ phải gánh chịu những hậu quả xấu do hành vi phạm tội mà người chồng gây ra ( quy định tại điều 331, 504, 481, 482, 476, 479, 483,484 … QTHL).
Ngoài ra, người chồng có nghĩa vụ giáo dục, dạy bảo vợ về nghi lễ thờ cúng gia tiên, nguyên tắc thờ cúng tại miếu …
Bên cạnh đó, pháp luật phong kiến Việt Nam cũng có những quy định tiến bộ, đã bênh vực, bảo vệ người phụ nữ. Họ có thể từ hôn trong trường hợp: Hôn nhân đã được hai bên gia đình định đoạt, song người con trai bị ác tật hay phạm tội hoặc phá tán gia sản thì người con gái có quyền kêu quan để trả đồ lễ mà không phải cưới (điều 322 QTHL). Ngoài ra, họ còn được li hôn trong các trường hợp luật định. So sánh những quy định trong hai bộ luật, ta thấy được sự tiến bộ của pháp luật triều Lê và sự thụt lùi của pháp luật triều Nguyễn trong việc bảo vệ địa vị, quyền của người phụ nữ.
b.Về quan hệ tài sản
Quan hệ này có sự thay đổi theo tiến trình lịch sử và phụ thuộc mạnh mẽ các triều đại trị vì dân tộc. Theo quy định gia đình phong kiến nước ta là gia đình phụ quyền, gia trưởng nên người chồng là người đứng đầu gia đình. Do đó , người vợ phải phụ thuộc vào chồng và gia đình chồng về mọi mặt,kể cả tài sản(theo HVLL). Như thế, quan hệ tài sản giữa vợ chồng trong luật Gia Long thể hiện nguyên tắc bất bình đẳng. Quyền gia trưởng được pháp luật bảo vệ, người vợ phụ thuộc vào người chồng.
Trong khi đó, pháp luật thời Lê có sự tiến bộ hơn khi đã cho phép người vợ sở hữu tài sản riêng, giữa vợ cả và chồng có tài sản chung(điều 374, 375, 376). Tuy nhiên, pháp luật thời Lê cũng phủ nhận quyền có tài sản chung giữa vợ lẽ với chồng, mà chỉ chồng chu cấp bảo đảm cuộc sống. Song nếu người vợ thông gian thì số tài sản riêng đó thuộc về người chồng. Từ đó, ta thấy được sự tiến bộ và cụ thể của pháp luật triều Lê trong việc xác định tài sản.
2. Trong quan hệ vợ cả - vợ lẽ
Trong những quy định của pháp luật phong kiến Việt Nam, người vợ cả cũng được tôn trọng trong gia đình. Đối với vợ lẽ, người vợ cả có quyền người chồng. Điều đó được thể hiện qua rất nhiều quy định như trong QTHL, điều 481 quy định: “ Nếu vợ lẽ mà đánh vợ cả thì cũng xử như tội đánh chồng”, tức là bị xử nặng hơn một bậc. Ngược lại, người vợ cả có đánh bị thương hay đánh chết vợ lẽ thì lại xử tương tự như chồng đánh vợ, tức là xử giảm nhẹ đi ba bậc so với tội đánh , giết người bình thường (điều 482). Như thế, trong quan hệ với vợ lẽ, vợ cả ngang hàng với chồng, cao hơn hẳn vợ lẽ.
C/ KẾT LUẬN
Thông qua những quy định, pháp luật phong kiến Việt Nam đã chặt chẽ điều chỉnh những vấn đề có thể xảy ra trong lĩnh vực hôn nhân theo tư tưởng nho giáo. Qua đó, ta thấy phong kiến tuy có sự hà khắc song cũng có nhiều điểm tiến bộ so với pháp luật Trung Hoa. Ngay cả trong nước, tại mỗi thời kì khác nhau thì những quy định đó cũng có sự khác biệt, nếu HVLL là bộ luật cụ thể hóa và quy định chặt chẽ thì QTHL lại thể hiện sự tiến bộ ,nhân văn sâu sắc.


MỤC LỤC

Trang

A/ LỜI MỞ ĐẦU 1

B/ NỘI DUNG 1
I/ VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ HÔN NHÂN 1
II/CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN KHÔNG BÌNH ĐẲNG TRONG 1
PHÁP LUẬT PHONG KIẾN VIỆT NAM
1. Trong quan hệ vợ chồng 1
a. Về quan hệ nhân thân 2
b. Về quan hệ tài sản 4
2. Trong quan hệ vợ cả - vợ lẽ 5

C/ KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Giaó trình lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, nhà xuất bản công an nhân dân, năm 2002.
2.Quốc triều hình luật hình luật, lịch sử hình thành nội dung và giá trị, TS. Lê Thị Sơn, nhà xuất bản khoa học xã hội.
3. Giáo trình luật hôn nhân và gia đình , Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản công an.
4. Bộ Hoàng Việt luật lệ.

Trả Lời Với Trích Dẫn