Thư Viện Tài Liệu Tổng Hợp

TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu tổng hợp hoàn toàn miễn phí dành cho mọi người

Hãy sử dụng chức năng tìm kiếm bên dưới để tìm tài liệu trước khi post yêu cầu liên diễn đàn!

Loading

VanMau.VN - Thư viện văn mẫu Việt Nam
+ Viết bài mới  + Trả lời bài viết
 
LinkBack Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 04-12-2012, 02:20 PM
Senior Member
 
Tham gia: Apr 2012
Tổng số bài gởi: 8,890
Send a message via Yahoo to die


Bài 8. Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng và trật tư quản lý hành

Chương 8. CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN CÔNG CỘNG, TRẬT TỰ CÔNG CỘNG VÀ TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

8.1. CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN CÔNG CỘNG

8.1.1. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202)

Văn bản hướng dẫn:Thông tư 02/96/TTLN VKSNDTC – TANDTC – BNV ngày 07/01/1995.

Nghị quyết 02/2003/ HĐTPTATC ngày 17/04/ 2003.

Luật giao thông đường bộ ngày 01/07/2003

a. Các dấu hiệu pháp lý

Khách thể của tội phạm: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trực tiếp xâm hại tới 2 loại quan hệ xã hội, đó là:

+ Xâm phạm đến sự an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ.

+ Xâm phạm quan hệ về tính mạng, sức khoẻ và tài sản của người khác

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Như đi qua tốc độ, tránh, vượt trái phép, chở hàng hoá cồng kềnh, chở quá trọng tải...

Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc: Chỉ cấu thành tội phạm nếu hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêm trọng trong CTTP của tội này được hướng dẫn trong Nghị quyết 02/2003 như sau:

- Làm chết một người.

- Gây thương tích cho từ 1 đến 4 người mà tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên.

- Gây thiệt hại về tài sản trị giá tài sản từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.

3. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với hậu quả tai nạn

Trong một CTTP nếu hậu quả đã được phản ánh là một dấu hiệu trong mặt khách quan thì mối quan hệ nhân quả cũng sẽ là một dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của CTTP. Nh*ư vậy, việc áp dụng những CTTP loại này nói chung và CTTP của các tội xâm phạm TTATGTĐB nói riêng không chỉ đòi hỏi phải xác định hậu quả nghiêm trọng cho xã hội mà còn phải xác định mối quan hệ nhân quả, giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Một người chỉ phải chịu TNHS về hậu quả nguy hiểm cho xã hội nếu giữa hành vi khách quan đã thực hiện của họ và hậu quả nguy hiểm có mối quan hệ nhân quả với nhau, hay nói cách khác nếu.hậu quả nguy hiểm đó do chính hành vi khách quan của họ gây ra

Khi có một vụ TNGT xảy ra thư*ờng do một loạt các nguyên nhân và điều kiện tác động, gắn liền với nhau. Chúng có thể là hành vi vi phạm của người điều khiển phư*ơng tiện giao thông, có thể do sự vô ý của người khác trong đó có người bị hại, hoặc do lỗi của cả 2 bên, thậm chí do lỗi của người thứ 3, tình trạng đường sá, thời tiết, thiết bị an toàn của phư*ơng tiện giao thông, hệ thống đèn, biển báo giao thông, do tình trạng sức khoẻ của nạn nhân và điều kiện cứu chữa nạn nhân... Như* vậy, trong từng trường hợp một, đặt trong hoàn cảnh cụ thể đó phải xác định được những nguyên nhân nào do ai gây ra, đâu là nguyên nhân trực tiếp, đâu là nguyên nhân gián tiếp. Đây cũng chính là nội dung của việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của loại tội này.

Trong thực tiễn, việc xác định mối quan hệ nhân quả đối với những trường hợp hậu quả là thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người nói chung rất phức tạp, thì việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm các quy định về ATGTĐB và hậu quả tai nạn về thực tế còn phức tạp hơn nhiều. Tính phức tạp của vấn đề do đặc thù của loại tội này quyết định. Vì vậy, phải có sự đánh giá nội dung này một cách khoa học, có sức thuyết phục, đảm bảo cơ sở thực tế, đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), từ đó mới có cơ sở đ*ưa ra một mức chế tài hợp lý và mới có thể tránh tình trạng xử lý oan sai.

Ví dụ: Nguyễn Quốc V điều khiển xe Super Dream (100 cm3) không có giấy phép lái xe trên đoạn đường Quốc lộ 1A từ thị trấn Tứ Hạ về thị trấn Phú Bài. V đi đúng tốc độ cho phép, đúng phần đường. Khi đến km số 720, thì B đi xe hon đa ngược chiều đã đâm vào xe V. Hậu quả B chết tại chỗ, V bị thương nhẹ. Nguyên nhân của vụ tai nạn xác định được do B lái xe trong tình trạng say, chạy quá tốc độ cho phép 75%, và một phần do V không có bằng lái. B và V đều có lỗi đối với 3 nguyên nhân này.

Song trong 3 nguyên nhân góp phần gây tai nạn trong trường hợp này thì việc chạy quá tốc độ và lái xe trong tình trạng say của B là nguyên nhân trực tiếp (nguyên nhân có mối quan hệ nhân quả với hậu quả vụ tai nạn). Còn V không có bằng lái là nguyên nhân gián tiếp (nguyên nhân không có mối quan hệ nhân quả với hậu quả vụ tai nạn). Tình huống này, V không phải chịu TNHS về hậu quả B chết mà V chỉ bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi điều khiển phương tiện không có giấy phép theo quy định của pháp luật.

Chủ thể của tội phạm: Là người trực tiếp điều khiển phương tiện giao thông, đường bộ, trong đó bao gồm cả người trực tiếp điều khiển các phương tiện thô sơ đường bộ.

Tuy nhiên, qua công tác đấu tranh phòng, chống TNGT trong thời gian qua cho thấy, chưa có trường hợp nào mà người điều khiển ph*ương tiện thô sơ gây tai nạn lại bị truy cứu TNHS theo Điều 202. Trên thực tế đã xảy ra những vụ tai nạn giao thông giữa xe máy với xe đạp nhưng nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân chính lại do người xe đạp gây ra mà hậu quả là người đi xe máy chết. Trường hợp này nếu không xử lý hình sự với người đi xe đạp thì rõ ràng là bỏ lọt tội. Chính từ thực tế đó, dẫn đến trong xã hội, ngay cả với một số không nhiều người tiến hành tố tụng quan niệm cho rằng, các trường hợp tai nạn giao thông xảy ra thì lỗi trư*ớc hết là do người điều khiển ph*ương tiện giao thông cơ giới với phân khối lớn hơn, sau đó là người điều khiển phư*ơng tiện thô sơ, cuối cùng mới là do người đi bộ. Chính vì vậy, cần phải có những biện pháp làm thay đổi nhận thức về vấn đề này của mọi công dân về TNHS đối với các trường hợp người điều khiển xe thô sơ gây tai nạn. Qua đó mới có thể góp phần nâng cao ý thức chấp hành luật lệ giao thông khi tham gia giao thông đối với người điều khiển phương tiện thô sơ và người sử dụng thiết bị chuyên dùng lưu thông trên đường bộ. Đòng thời, mới đảm bảo việc xử lý các vụ TNGT được khách quan, chính xác, hạn chế tình trạng bỏ lọt tội, hoặc làm oan người vô tội.

Mặt chủ quan của tội phạm: Được thực hiện với hình thức lỗi vô ý, có thể là vô ý vi quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả.

Lỗi vô ý vì cẩu thả của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ th*ường thể hiện ở những trư*ờng hợp như*: ngư*ời điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ch*ưa đư*ợc học tập, đào tạo về quy tắc ATGTĐB, hoặc trư*ờng hợp người phạm tội do sơ ý không quan sát nên không thấy và đã không tuân theo tín hiệu giao thông; hoặc trư*ờng hợp lái xe buổi đêm sáng trăng nên không chú ý bật đèn nên gây ra tai nạn.

Lỗi vô ý vì quá tự tin của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ th*ường thể hiện thông thư*ờng là những trường hợp phóng nhanh v*ượt ẩu nhưng tin vào kinh nghiệm trình độ lái xe của mình mà cho rằng không để xảy ra tai nạn. Việc phán đoán, đánh giá, tính toán cân nhắc này hoàn toàn không phù hợp với thực tế khách quan, hay nói cách khác là nhận định chủ quan của người phạm tội là không có cơ sở thực tế nên hậu quả tai nạn đã xảy ra trái với nhận thức, trái với ý muốn của họ.

b. Hình phạt

Điều 202 quy định 4 khung hình phạt như sau:

Khoản 1: Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng và không có tình tiết định khung tăng nặng

Khoản 2: Phạt tù từ 3 đến 10 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

1. Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định.

Tức là trường hợp người phạm tội không có bằng lái do cơ quan có thẩm quyền cấp đối với loại ph*ương tiện đó, hoặc có giấy phép lái xe nhưng không phù hợp với loại xe đang điều khiển, hoặc đã bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi bằng lái, hoặc trường hợp điều khiển ph*ương tiện GTĐB trong thời hạn bị cơ quan có thẩm quyền cấm điều khiển.

Qua thực tế áp dụng tình tiết này vẫn còn một vư*ớng mắc là đối với trường hợp người điều khiển vi phạm quy định về ATGTĐB bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ bằng lái trong một thời hạn nhất định thì trong thời hạn bị tạm giữ bằng lái người lái xe có được tiếp tục điều khiển ph*ơng tiện nữa hay không?Về vấn đề này chưa có văn bản pháp luật nào quy định nên trong thực tiễn áp dụng pháp luật có 2 quan điểm trái ngư*ợc nhau. Để việc áp dụng pháp luật thống nhất cần có văn bản pháp luật quy định cụ thể về vấn đề này. Theo quan điểm của chúng tôi nên quy định trong thời hạn bị giam giữ bằng lái người lái xe không được điều khiển phư*ơng tiện. Bởi vì, người bị tạm giữ bằng lái là người đã có hành vi vi phạm quy định về ATGTĐB, nhưng vì nhiều lý do khách quan khác nhau mà người có thẩm quyền chưa có biện pháp xử lý ngay, nếu cứ cho phép họ tiếp tục điều khiển sẽ không đảm báo an toàn trong quá trình vận hành. Mặt khác, điều này sẽ gây khó khăn cho việc thi hành công vụ của các trạm kiểm soát trong thời gian bằng lái của họ bị tạm giữ.

2. Phạm tội trong khi say rư*ợu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác.

Tại khoản 7, 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định: "Cấm người lái xe sử dụng chất ma tuý. Cấm người lái xe đang điều khiển xe trên đường mà trong máu có nồng độ cồn vư*ợt quá 80mg/100ml máu hoặc 40 mg/1ít khí thở hoặc các chất kích thích mạnh khác".

Như* vậy, khi nồng độ cồn v*ượt quá 80 mg/100ml máu hoặc 40 mg/1ít khí thở thì bị coi là phạm tội trong khi say rư*ợu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác. Đây là một hư*ớng dẫn mang tính định lư*ợng cụ thể, đòi hỏi sự đánh giá phải chính xác bởi nó cho phép xác định ranh giới giữa trường hợp có tội hoặc không có tội, bị xử lý theo Khoản 1 hay Khoản 2, Điều 202 đối với người lái xe trong tình trạng say gây tai nạn.

3. Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn.

Là trường hợp người phạm tội sau khi gây tai nạn nghiêm trọng đã có ý thức bỏ mặc cho sự đã rồi" hòng chạy trốn, lẩn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị hại mà lẽ ra họ phải có trách nhiệm áp dụng những biện pháp cần thiết để khắc phục đến mức thấp nhất thiệt hại do họ gây ra. Tình trạng gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn hiện nay đã trở thành phổ biến, nhất là ở những đoạn đường vắng người, hoặc tai nạn xảy ra vào đêm khuya. Trong nhiều tr*ường hợp nếu người phạm tội sau khi gây ra tai nạn mà có hành vi cứu giúp người bị nạn thì hậu quả gây ra sẽ không ở mức độ nghiêm trọng. Mặt khác, thực trạng này sẽ gây khó khăn rất lớn trong công tác điều tra, phát hiện tội phạm.

4. Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hư*ớng dẫn giao thông.

Khoản 2, Điều 3 Luật giao thông đường bộ quy định: "Người làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hư*ớng dẫn giao thông là cảnh sát giao thông (CSGT) hoặc người được giao nhiệm vụ h*ướng dẫn giao thông tại nơi thi công, nơi ùn tắc giao thông; ở bến phà, tại cầu đường bộ đi chung với đường sắt". Hành vi của người điều khiển phương tiện GTĐB không chấp hành hiệu lệnh của những người nói trên gây tai nạn nghiêm trọng thì áp dụng tình tiết này để truy tố.

5. Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

Nghị quyết số 02/HĐTPTANDTC ngày 17/04/2003 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS 1999, tại mục 4.2 quy định những trường hợp sau đây được coi là gây hậu quả rất nghiêm trọng thuộc Khoản 2 của các tội xâm phạm TTATGTĐB.

+ Làm chết hai người.

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ từ 3 đến 4 người với tỉ lệ thư*ơng tật của mỗi người từ 31% trở lên.

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của các nạn nhân từ 101% đến 200%.

+ Gây thiệt hại về tài sản trị giá từ 500 triệu đến dưới 1.500 triệu đồng.

Khoản 3: Phạt tù từ 7 năm đến 15 năm nếu gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Tại mục 4.3 của Nghị quyết trên quy định những trường hợp sau đây được coi là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thuộc Khoản 3 của các tội xâm phạm TTATGTĐB.

+ Làm chết từ 3 người trở lên.

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ từ 5 người trở lên với tỉ lệ thư*ơng tật của mỗi người từ 31% trở lên.

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỉ lệ thương tật của mỗi người d*ưới 31% nhưng tổng tỷ lệ thương tật của các nạn nhân từ trên 200%.

+ Gây thiệt hại về tài sản trị giá từ 1.500 triệu đồng trở lên.

Khoản 4: Phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm trong trường hợp vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chăn kịp thời.

8.1.2. Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 203)

Khách thể, lỗi, hậu quả của tội phạm giống Điều 202.

Chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi trở lên có NLTNHS

Mặt khách quan của tội phạm được phản ánh bởi các dấu hiệu sau.

Về hành vi khách quan là hành vi cản trở giao thông đường bộ. Hành vi này thường được thể hiện ở các dạng như sau:

@ Đào, khoan, xẻ trái phép các công trình giao thông đường bộ.

@ Đặt trái phép chướng ngại vật gây cản trở giao thông đường bộ.

@ Lấn chiếm. sử dụng vỉa hè, lòng đường, lấn chiếm hành lang bảo vệ đường bộ.

@ Tháo dỡ di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá huỷ biển báo hiệu, các thiết bị an toàn giao thông đường bộ.

@ Mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường có dải phân cách.

Về hậu quả của tội phạm, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các tình tiết định khung giống Điều 202.

8.1.3. Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không đảm bảo an toàn (Điều 204)

Khách thể, lỗi, hậu quả của tội phạm giống Điều 202.

Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi điều động hoặc hành vi cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường bộ rõ ràng không đảm bảo an toàn kỹ thuật.

Ví dụ: Điều xe tải đi chở người, điều xe không có hệ thống chiếu sáng, phanh không đảm bảo an toàn...

Chủ thể của tội phạm thuộc 2 nhóm sau:

+ Chủ phương tiện là người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động phương tiện giao thông đường bộ.

+ Kiểm định viên là người chịu trách nhiệm trực tiếp về tình trạng kỹ thuật, phương tiện giao thông đường bộ.

8.1.4. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ (Điều 205)

Khách thể, lỗi, hậu quả của tội phạm giống Điều 202.

Hành vi khách quan của tội phạm được thực hiện bằng một trong 2 loại hành vi sau:

@ Điều động người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

@ Giao cho người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

Người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là người không có bằng lái theo quy định, người không đủ điều kiện về tình trạng sức khoẻ.

Chủ thể của tội phạm thuộc 2 nhóm người là chủ phương tiện và người đang điều khiển phương tiện.

8.1.5. Tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 206)

Văn bản hướng dẫn

Nghị quyết 02/2003/HĐTPTATC ngày 17/04/2003

Khách thể của tội phạm là sự xâm phạm an toàn giao thông công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ.

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan: Là hành vi tổ chức đua xe trái phép. Hành vi này được thể hiện như kích động, lôi kéo, xúi, giục, cầm đầu 1 hoặc nhiều người đua xe trái phép trên đường giao thông công cộng.

+ Phương tiện phạm tội: Là những phương tiện giao thông đường bộ có gắn động cơ. Như vậy, hành vi tổ chức đua xe đạp trái phép không cấu thành tội phạm này.

Chủ thể của tội phạm: Là bất kỳ ai từ đủ 14 hoặc từ đủ 16 tuổi trở lên có NLTNHS.

Mặt chủ quan của tội phạm: Là lỗi cố ý trực tiếp.

8.1.6. Tội đua xe trái phép (Điều 207)

Khách thể của tội phạm là sự xâm phạm an toàn giao thông công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ.

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi đua xe trái phép. Hành vi đua xe trái phép chỉ cấu thành tội phạm nếu thoả mãn 1 trong 3 điều kiện

1. Gây hậu quả nghiêm trọng, tức là gây tai nạn làm chết người hoặc gây thiệt hại về tài sản do việc đua xe trái phép.

2. Đã bị xử phạt hành chính về hành vi đua xe trái phép.

3. Hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa xoá án tích.

+ Về phương tiện phạm tội là những phương tiện giao thông đường bộ có gắn động cơ. Như vậy, hành vi đua xe đạp trái phép không cấu thành tội phạm này.

Chủ thể của tội phạm: Là bất kỳ ai từ đủ 14 hoặc từ đủ 16 tuổi trở lên có NLTNHS trực tiếp điều khiển phương tiện tham gia cuộc đua

Chú ý: Nếu có người ngồi sau xe tham gia đua xe thì người ngồi sau bị xử lý về tội này với vai trò là đồng phạm.

Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý trực tiếp.

8.1.7. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ chất phóng xạ, chất cháy, chất độc (Điều 230, 232, 233, 236 và 238).

Khách thể, chủ thể, lỗi của tội phạm giống tội đua xe trái phép

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Đối tượng tác động của tội phạm bao gồm: vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ chất phóng xạ, chất cháy, chất độc, dao găm, kiếm, giáo mác, mã tấu, đinh ba, roi cao su, roi điện, găng tay điện

+ Hành vi khách quan của tội phạm được thực hiện bằng một trong các loại hành vi sau:

1. Hành vi tàng trữ trái phép các tài sản trên: Là hành vi cất giữ bất hợp pháp tài sản này ở bất kỳ nơi nào mà không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép ra chất khác.

2. Hành vi vận chuyển trái phép tài sản trên: Là hành vi chuyển dịch trái phép tài sản này từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào mà không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép ra loại tài sản khác.

3. Hành vi mua bán trái phép tài sản trên: Là hành vi mua và bán, hoặc hành vi mua nhằm mục đích để bán hoặc hành vi bán trái phép loại tài sản này nhằm kiếm lời.

4. Hành vi chiếm đoạt loại tài sản trên: Là hành vi lấy trái phép các tài sản trên từ người khác bằng các hành vi cướp, cướp giật, trộm cắp, lừa đảo...

Chú ý: Nếu một người thực hiện nhiều loại hành vi nêu trên chỉ nhằm vào một loại đối tượng tác động thì chỉ xử lý một tội với tên tội danh đầy đủ theo các tội danh tương ứng.

8.1.8. Tội phá huỷ công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 231).

Khách thể, chủ thể, lỗi của tội phạm giống tội đua xe trái phép

Mặt khách quan của tội phạm: Được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Đối tượng tác động của tội phạm là công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia. Như công trình giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc công trình điện, công trình dẫn chất đốt. công trình thuỷ lợi...

+ Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi phá huỷ công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia. Được biểu hiện như đập phá, gây nổ, gây cháy, lấy trộm tài sản đang nằm trong hệ thống công trình quan trọng về an ninh quốc gia.

Chú ý: Tài sản là đối tượng tác động của tội phạm phải nằm trong hệ thống công trình đang vận hành.8.2. CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ CÔNG CỘNG8.2.1. Tội gây rối trật tự công cộng (Điều 245) Khách thể của tội phạm. Tội phạm xâm phạm trật tự công cộng. Trật tự công cộng được hiểu là xâm phạm nếp sống văn minh, vi phạm quy tắc của cuộc sống XHCN, ảnh hưởng đến những hoạt động của những người khác ở nơi công cộng.

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở các dấu hiệu sau

+ Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi gây rối trật tự công cộng. Biểu hiện của hành vi này là lăng mạ, gây lộn, gây gổ, hành hung, trêu ghẹo người qua đường, có những lời nói thiếu văn minh, hành vi đốt pháo ở những nơi công cộng.

Hành vi gây rối trật tự công cộng chỉ cấu thành tội phạm nếu thoả mãn 1 trong 3 điều kiện:

1. Gây hậu quả nghiêm trọng. Ví dụ hành vi gây rối làm ngừng trệ các hoạt động ở nơi công cộng như gây ách tắc giao thông, buổi biểu diễn không thực hiện được.

Theo nghị quyết 02/2003/HĐTPTATC thì hậu quả nghiêm trọng của hành vi gây rối trật tự công cộng ví dụ như:

a. Cản trở ách tắc giao thông đến dưới 2 giờ.

b. Cản trở sự hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước.

c. Thiệt hại về tài sản trị giá từ 10 triệu đồng trở lên.

d. Làm chết người hoặc gây thương tích cho người khác với tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên.

Ngoài ra hậu quả nghiêm trọng còn có thể là hậu quả phi vật chất như ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng.

“Gây cản trở giao thông nghiêm trọng” quy định tại khoản 2 Điều 245 là gây cản trở giao thông từ 2 giờ trở lên hoặc gây cản trở giao thông ở những tuyến giao thông quan trọng, làm ách tách giao thông trên diện rộng (không phân biệt thời gian bao lâu).

2. Đã bị xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng.

3. Hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa xoá án tích.

+ Địa điểm phạm tội. Hành vi gây rối phải xảy ra ở nơi công cộng-nơi công cộng là phạm vi ngoài khuôn viên nhà riêng và có ảnh hưởng đến sinh hoạt của người khác.

Chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi trở lên có NLTNHS.

Mặt chủ quan của tội phạm lỗi cố ý trực tiếp.

Chú ý: Nếu hành vi hành hung của tội gây rối trật tự công cộng mà gây thương tích cho người khác với tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc gây chết người thì chỉ xử lý về tội cố ý gây thương tích hoặc tội giết người.

8.2.2. Tội đánh bạc (Điều 248)

Chủ thể, khách thể, mặt chủ quan của tội phạm giống Điều 245.

Mặt khách quan của tội phạm chỉ đặc trưng bởi hành vi khách quan đó là hành vi đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào, được thua bằng tiền, hay hiện vật. Hành vi này chỉ cấu thành tội phạm nếu thoả mãn 1 trong 3 điều kiện sau:

1. Tiền hay hiện vật dùng vào việc đánh bạc ở mức giá trị lớn

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2003/HĐTPTATC ngày 17/04/2003 và Công văn số 1371/KSĐT-VKSNDTC ngày 20/06/2002 thì tiền hay hiện vật dùng vào việc đánh bạc ở mức giá trị lớn là từ 1 triệu đồng trở lên của tất cả các con bạc trên chiếu bạc.

2. Đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.

3. Đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nhưng chưa được xoá án tích.

Chú ý: Chỉ coi là phạm tội đánh bạc nếu việc được thua là do may, rủi.

8.2.3. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Điều 249)

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm giống Điều 248

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi hành vi khách quan. Hành vi khách quan của tội này thể hiện ở một trong 2 dạng sau:

@. Hành vi tổ chức đánh bạc: Là hành vi rủ rê, lôi kéo, tụ tập những người khác vào việc đánh bạc.

@. Hành vi gá bạc: Là hành vi chứa chấp việc đánh bạc bằng việc cho thuê, cho mượn địa điểm của mình hoặc của người khác để người khác sử dụng vào việc đánh bạc.

Các hành vi này chỉ cấu thành cấu phạm nếu thoả mãn 1 trong 3 điều kiện:

1. Có quy mô lớn.

Theo hướng dẫn tại 2 văn bản trên trong tội đánh bạc, thì tổ chức đánh bạc và gá bạc được coi là có quy mô lớn là tổ chức hoặc chứa chấp từ 10 lượt người trở lên hoặc từ 2 sòng bạc trở lên.

Tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc, lắp đặt trang thiết bị cho việc đánh bạc, khi đánh bạc có phân công người canh gác.

2. Đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.

3. Đã bị kết án về một trong các tội này nhưng chưa được xoá án tích.

8.2.4. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 250)

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm giống Điều 248.

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi hành vi khách quan. Hành vi khách quan của tội này thể hiện ở một trong 2 dạng sau:

@. Hành vi chứa chấp.

@. Hành vi tiêu thụ những tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có.

Hành vi này phải thoả mãn điều kiện là phải không có sự hứa hẹn trước, nếu có sự hứa hẹn trước sẽ trở thành đồng phạm về tội mà người có tài sản đã thực hiện.

[IMG]file:///C:/Users/LUCKYC~1/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image001.gif[/IMG] Chú ý: Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cấu thành một số tội độc lập thì xử lý về những tội độc lập này. Ví dụ: A mua 1 kg thuốc nổ từ Khăm pa seuth - Lào mang về Việt Nam qua cửa khẩu Lao Bảo bán cho B ở thị xã Đông Hà. Hành vi của A phạm tội buôn lậu (Điều 153), Hành vi của B mua số tài sản này thực chất là hành vi tiêu thụ tài sản do A phạm tội buôn lậu mà có, nhưng trường hợp này hành vi của A lại cấu thành tội mua bán trái phép hàng cấm (Điều 155)

Theo hướng dẫn tại Công văn số 102/98/TANDTC ngày 7/10/98 thì tài sản, vật phạm pháp có giá trị từ 70 triệu đồng đến dưới 250 triệu đồng được coi là có giá trị lớn. Tài sản, vật phạm pháp có giá trị từ 250 triệu đồng đến dưới 750 triệu đồng được coi là có giá trị rất lớn. Tài sản, vật phạm pháp có giá trị từ 750 triệu đồng trở lên được coi là có giá trị đặc biệt lớn.

8.2.5. Tội chứa mại dâm (Điều 254)

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạmgiống Điều 248

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi hành vi khách quan là hành vi chứa mại dâm. Hành vi chứa mãi dâm là hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm để người khác thực hiện việc mua bán dâm.

Chú ý: Chỉ cấu thành tội chứa mãi dâm nếu người mua bán dâm từ đủ 13 tuổi trở lên. Nếu người mua bán dâm chưa đủ 13 tuổi thì người chứa mãi dâm sẽ bị xử lý về tội hiếp dâm trẻ em với vai trò là đồng phạm.

8.2.6. Tội môi giới mại dâm (Điều 255)

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm giống Điều 248

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi hành vi khách quan là hành vi môi giới mại dâm. Hành vi môi giới mãi dâm là hành vi làm trung gian tổ chức móc nối, dụ dỗ, dẫn dắt tìm người mua dâm, bán dâm, tạo điều kiện cho hai bên gặp nhau để thực hiện mua bán dâm.

Chú ý: Chỉ cấu thành tội môi giới mãi dâm nếu người mua bán dâm từ đủ 13 tuổi trở lên. Nếu người mua bán dâm chưa đủ 13 tuổi thì người môi giới mãi dâm sẽ bị xử lý về tội hiếp dâm trẻ em với vai trò là đồng phạm.

8.2.7. Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256)

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm giống Điều 248

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi hành vi khách quan là hành vi dùng tiền hay lợi ích vật chất khác để thực hiện hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi

Chú ý: Chỉ cấu thành tội này nếu người bán dâm từ đủ 13 tuổi trở lên. Nếu người bán dâm chưa đủ 13 tuổi thì người mua dâm sẽ bị xử lý về tội hiếp dâm trẻ em.

8.3. CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

8.3.1. Tội chống người thi hành công vụ (Điều 257)

Khách thể của tội phạm là sự xâm phạm trật tự quản lý hành chính- xâm phạm sự hoạt động đúng đắn và bình thường của cơ quan Nhà nước làm giảm hiệu lực quản lý Nhà nước.

Mặt khách quan của tội phạm đặc trưng bởi dấu hiệu hành vi khách quan. Hành vi khách quan của tội phạm này được thực hiện bởi 1 trong 3 loại hành vi sau:

@. Hành vi dùng vũ lực: Được hiểu là hành vi tác động bằng sức mạnh vật chất lên thân thể người thi hành công vụ như: trói, đấm đá, nhốt người thi hành công vụ.

Nếu hành vi dùng vũ lực gây thương tích hoặc gây chết người cho người thi hành công vụ thì tuỳ theo hậu quả xảy ra trên thực tế chỉ xử lý về Tội cố ý gây thương tích hoặc Tội giết người với tình tiết định khung tăng nặng của các tội này là nạn nhân là người đang thi hành công vụ. Hay nói cách khác, hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ khi không có thương tích thì mới xử lý theo Điều 257.

@. Đe doạ dùng vũ lực: Là hành vi khống chế, đe doạ bằng lời nói, cử chỉ là sẽ dùng vũ lực ngay nếu người thi hành công vụ vẫn tiếp tục thi hành công vụ.

@. Dùng thủ đoạn khác: Như doạ sẽ sẽ công bố những tin tức tài liệu bất lợi cho người thi hành công vụ, tố cáo vấn đề đời tư của người thi hành công vụ

Chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi trở lên có NLTNHS.

Mặt chủ quan của tội phạm được đặc trưng bởi 2 dấu hiệu:

+ Lỗi cố ý trực tiếp

+ Mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP thể hiện ở một trong hai dạng:

@. Nhằm cản trở việc thi hành công vụ của nạn nhân.

@. Ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật.

8.3.2. Một số tội phạm khác

Bài tập số 01

Ngô Thị Mỹ Yên trú tại Bình Thạnh, thành phố HCM. Vào khoảng 13 giờ ngày 30/4/2003, Yên đã đi bộ đi ngang qua mặt cầu có giải phân cách. Khi ra đến giữa cầu, Yên thấy 1 xe máy chạy tới nên đứng lại. Khi xe này chạy qua thì xe khác do Nguyễn Khắc Hùng điều khiển chạy từ phía sau tới, Yên luống cuống đi tới đi lui để tránh xe Hùng thì Hùng đã đâm vào Yên rồi va vào con lươn giữa cầu làm 02 người ngã xuống đường bất tỉnh.

Hậu quả là Yên bị thương nhẹ, người điều khiển xe máy bị chết trên đường đi cấp cứu.

Hãy đánh giá tính chất pháp lý hình sự của vụ án trên.

Bài tập số 02

Lê Văn Phương là chủ xe khách loại 54 chỗ ngồi, mang biển kiểm soát 77H 43 - 27. Phương thuê Phạm Ngọc Thành lái (Thành có bằng lái xe hợp lệ). Ngày 24/02/2001, Thành chở khách từ Bình Định vào thành phố HCM, trên xe có 60 người (trong đó có Phượng). Do chạy quá tốc độ, chở quá số người theo quy định nên đã bị cảnh sát giao thông Phú Yên tạm giữ bằng lái của Thành vào hồi 16 giờ cùng ngày và hẹn Thành 03 ngày sau đến xử lý.

Vì khách trên xe đã đầy nên Phượng bảo Thành lái xe tiếp vào thành phố HCM để trả khách. Vào khoảng 16 giờ ngày 26 tháng 02, khi xe của Thành quay ra đến đoạn đường Bùi Thị Xuân, thành phố Quy Nhơn do phóng nhanh vượt ẩu đả gây tai nạn làm chết 02 em học sinh đang đi xe đạp trên lề đường bên phải cùng chiều.

Hãy xác định tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với Thành và Phượng.

Trả Lời Với Trích Dẫn