View Single Post
  #1  
Old 01-11-2013, 08:54 PM
minhkun.7777 minhkun.7777 is offline
Junior Member
 
Tham gia: Jan 2013
Tổng số bài gởi: 1
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts


Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP
Lời mở đầu
Hiện nay trên thế giới, trách nhiệm xã hội ( TNXH hay CSR) của doanh nghiệp là một yêu cầu quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy đã có những nước đưa vấn đề này thành những quy định pháp luật. Liên hiệp quốc đã có 9 nguyên tắc quy định về TNXH. Ủy ban châu Âu đưa ra “ văn bản xanh”, trong đó TNXH là đưa các vấn đề xã hội và môi trường vào các hoạt động một cách tự nguyện. Anh quốc hàng năm đưa ra kết quả nghiên cứu và kèm theo là khuyến nghị các ngành. Có thể thấy TNXH đang là xu thế ngày càng lớn mạnh trên thế giới, nhưng hoạt động này lại chưa được nhiều doanh nghiệp Việt Nam quan tâm. Trước đây, các doanh nghiệp Việt Nam có thực hiện TNXH là do yêu cầu của đối tác khách hàng nước ngoài. Tuy nhiên trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hóa hiện nay, để có thể cạnh tranh với các nước khác, mở rộng thị trường thế giới thì các doanh nghiệp cần nhìn nhận thực hiện TNXH là kim chỉ nam cho mọi hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp đi vào hoạt động là nhờ sử dụng nguồn lực của xã hội và môi trường, nên có thể gây tác động xấu đến chúng. Do đó, doanh nghiệp cần có ý thức về những tác động từ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và có trách nhiệm với xã hội. Thực hiện TNXH sẽ giúp cho các doanh nghiệp nâng cao được uy tín, sức cạnh tranh, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh, đóng góp phát triển cộng đồng xã hội.
Vì vậy chúng em chọn “ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài tiểu luận để hiểu rõ hơn về thực trạng của việc thực hiện TNXH ở các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay cũng như những hạn chế, khó khăn khi áp dụng TNXH ở nước ta.






I. Cơ sở lý luận
1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là gì?

 Trách nhiêm xã hội của doanh nghiệp đang là xu hướng mạnh trên thế giới, và ngày càng có vai trò quan trọng đến sự thành công của doanh nghiệp.
 Người đầu tiên phác thảo ý tưởng về TNXH của doanh nghiệp là ông Noris , CEO đầu tiên của công ty Control Data. Ông cho rằng các doanh nghiệp nên sử dụng tài năng và nguồn lực của mình nhằm đáp ứng những nhu cầu của xã hội. Nhưng ông không thành công và United Way mới là người phát triển thành công ý tưởng của Noris thành chiến lược giúp doanh nghiệp gia tăng lợi thế cạnh tranh và phát triển cộng đồng lâu dài.

 Vậy thế nào là TNXH của doanh nghiệp ?

Ngày nay có nhiều định nghĩa khác nhau về TNXH của doanh nghiệp được đưa ra như:

 TNXH của doanh nghiệp là những nghĩa vụ phù hợp với mục tiêu và giá trị của xã hội mà nhà kinh doanh phải thực hiện khi theo đuổi chính sách và đưa ra quyết định cho hoạt động kinh doanh của mình ( nhà kinh học người Mỹ Howard R.Bowen ).
 TNXH hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng của xã hội đang phổ biến ((Prakash, Sethi)
 Một doanh nghiệp có trách nhiệm là một doanh nghiệp biết lắng nghe nguyện vọng của những bên hữu quan và đáp lại nguyện vọng đó một cách chân thành ( Blowfield ,Murray)

 Nhưng khái niệm được coi là hoàn chỉnh,rõ ràng và phổ biến nhất là của nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới: “ TNXH của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội” .
 Như vậy ,TNXH của doanh nghiệp đề cập đến cách ứng xử của doanh nghiệp đối với các đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động kinh doanh: người lao động, cổ đông, nhà cung cấp, khách hàng cho đến cộng đồng xã hội. Doanh nghiệp muốn phát triển bền vững phải chăm sóc đến quyền lợi người lao động, từ điều kiện làm việc đến chăm sóc sức khỏe. đời sống vật chất, tinh thần; tuân thủ những chuẩn mực về bảo vệ môi trường và thực hiện TNXH của mình thông qua việc áp dụng các bộ Quy tắc ứng xử (CoC) và các tiêu chuẩn như : SA8000( tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội), ISO 14000 ( bộ tiêu chuẩn về quản lý môi trường ) …

2. Tại sao doanh nghiệp cần thực hiện trách nhiệm xã hội?

 Có phải vì doanh nghiệp hưởng lợi từ các nguồn lực từ cộng đồng nên phải có trách nhiệm đóng góp cho cộng đồng?
Điều đó đúng, nhưng doanh nghiệp thực hiện TNXH không chỉ đơn thuần là trách nhiệm mà việc này còn đem lại rất nhiều lợi ích cho sự phát triển của doanh nghiệp. Ông Nguyễn Quang Vinh - Giám đốc Văn phòng doanh nghiệp (DN) vì sự Phát triển bền vững (SD4B) thuộc Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam trong cuộc trao đổi với phóng viên báo Kinh tế & Đô thị đã nói: “ Kết quả từ các cuộc phỏng vấn sâu đối với 50 CEO (Giám đốc điều hành doanh nghiệp) ở 27 quốc gia cho biết, 93% các nhà lãnh đạo đều khẳng định trách nhiệm xã hội có ý nghĩa sống còn đối với sự thành công của doanh nghiệp" .

 Một số lợi ích của việc doanh nghiệp thực hiện TNXH:

Thứ nhất: đối với doanh nghiệp :

 Nâng cao uy tín và thương hiệu:
Thực hiện TNXH giúp cho doanh nghiệp tăng giá trị thương hiệu và uy tín một cách đáng kể. Chương trình trách nhiệm xã hội với ý tưởng mới, có ích cho cộng đồng sẽ thu hút sự tham gia của các phương tiện truyền thông . Như vậy doanh nghiệp tận dụng được sự hỗ trợ của bên thứ ba khách quan để đưa hình ảnh đến với công chúng. Điều này giúp gia tăng “ tình cảm” của người tiêu dùng cũng như các đối tác, các nhà đầu tư đối với thương hiệu hay sản phẩm của doanh nghiệp.

 Thu hút được nguồn lao động có chuyên môn cao:
Chất lượng nguồn lao động quyết định đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Vì vậy việc thu hút và giữ được đội ngũ lao động có chuyên môn cao là một thách thức không nhỏ đối với doanh nghiệp.
Người lao động nào cũng đều muốn có điều kiện và môi trường làm việc tốt; tiền lương và phúc lợi đảm bảo được cuộc sống ,được quan tâm, hỗ trợ khi khó khăn, chế độ bảo hiệm đầy đủ, được nâng cao chuyên môn…Những doanh nghiệp thực hiện TNXH thỏa mãn những điều kiện đó sẽ thu hút được những lao động giỏi. Hơn nữa, ngày nay nhiều người lao động không còn đặt mục tiêu kiếm tiền lên hàng đầu khi lựa chọn chỗ làm việc. Như vậy hoạt động TNXH của doanh nghiệp khiến họ cảm thấy họ đang tạo ra giá trị và ý nghĩa cho xã hội. Họ tự hào về công việc và sẽ tâm huyết, gắn bó với doanh nghiệp.
 Tăng doanh thu:
Ngày nay, người tiêu dùng không chỉ quan tâm tới chất lượng hàng hóa mà còn quan tâm tới cách thức tạo ra sản phẩm đó. Vì thế thông qua việc thực hiện TNXH, doanh nghiệp nâng cao được uy tín, thu hút được nhiều khách hàng, ký thêm được nhiều hợp đồng mới.
Với các chế độ phúc lợi xã hội cao, lương bổng hợp lý doanh nghiệp thu hút đội ngũ nhân viên giỏi, họ lao động với tinh thần trách nhiệm và ý thức cao nên tăng năng suất lao động. Hơn nữa điều đó còn giúp giảm tỷ lệ nhân viên nghỉ, bỏ việc, giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới.
Kết quả khảo sát gần đây do Viện khoa học lao động và xã hội tiến hành trên 24 doanh nghiệp thuộc hai ngành Giầy da và Dệt may cho thấy, nhờ thực hiện các chương trình TNXH, doanh thu của các doanh nghiệp này đã tăng 25%, năng suất lao động cũng tăng từ 34.2 lên 35.8 triệu đồng /1 lao động/1 năm.
 Tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới :
Các doanh nghiệp chỉ có thể cạnh tranh, giành được thị trường nếu đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của các nhà nhập khẩu. Và một trong các yêu cầu bắt buộc đó của nhiều nhà nhập khẩu là TNXH của doanh nghiệp có thực hiện tốt không. Ví dụ như : sản phẩm muối i-ốt của Unilever có thề trong một thời gian ngắn chiếm 35% thị trường Ấn Độ vì đã gắn kết sản phẩm của mình với sức khỏe cộng đồng thông qua hợp tác với Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc.
Thứ hai: đối với cộng đồng:

 Bảo vệ môi trường :
Môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, trái đất đang nóng lên… là những vấn đề đang nhức nhối trên toàn cầu. Những doanh nghiệp thực hiện TNXH sẽ góp phần bảo vệ môi trường, sử dụng nguồn tài nguyên hợp lý, đồng thời doanh nghiệp không phải chịu chi phí khắc phục hậu quả hay bồi thường do kiện tụng.

 Làm từ thiện :
Những hoạt động từ thiện của doanh nghiệp như: ủng hộ đồng bào lũ lụt, xây dựng nhà tình thương, quyên góp cho quỹ vì người nghèo…. góp phần phát triển cộng đồng, xã hội.
Đã có hàng trăm trẻ em bệnh tim bẩm sinh được cứu sống, trẽ em chất độc màu da cam được giúp đỡ,… từ chương trình từ thiện của các tập đoàn: Kinh đô, Ngân hàng ACB, Samsung….
 Khách hàng mua được những sản phẩm chất lượng tốt:
Doanh nghiệp thực hiện TNXH sản xuất ra những sản phẩm an toàn vệ sinh, giá cả phải chăng,an toàn khi sử dụng. ..
 Như vậy có thể thấy TNXH của doanh nghiệp có tầm quan trong chiến lược đối với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển bền vững. TNXH không phải là cam kết mà là một yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế hội nhập hiện nay.




II. Thực trạng và giải pháp.
1. Thực trạng.
1.1. Việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp nước ngoài.

 Trong thập niên 40, 50 của thế kỉ XIX, vấn đề trách nhiệm xã hội đã được một số doanh nghiệp trên thế giới đề cập đến và dần dần phát triển mạnh mẽ hơn ở các nước châu Âu, Hoa Kì,…. Những phương pháp CSR đã được các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới áp dụng và thành công:
 Coi trách nhiệm với khách hàng là nền tảng cho mọi hoạt động, đồng thời thu hút khách hàng tham gia vào hoạt động CSR của doanh nghiệp.
Chẳng hạn, với việc đưa ra Cương lĩnh Johnson & Johnson năm 1943, Robert Wood Johnson, người sáng lập kiêm Chủ tịch Tập đoàn Johnson & Johnson, rất xứng đáng được gọi là “ông tổ” của hoạt động CSR khi hướng công ty của mình đến mục tiêu kinh doanh có trách nhiệm. Trong cương lĩnh này, lần đầu tiên, vai trò của cổ đông được đưa xuống dưới cùng và quyền lợi của khách hàng được đặt lên trên hết, thể hiện rõ cam kết với cộng đồng và thực hiện những hành động đầy tính trách nhiệm. Điều đó đã giúp cho Johnson & Johnson được Tạp chí Wall Street Journal (Mỹ) bầu chọn là “Doanh nghiệp đạo đức nhất thế kỷ” năm 1999. Cho đến ngày nay, Công ty vẫn kinh doanh thành công theo hướng thương hiệu trách nhiệm.
 Nhân viên phải được xem là khách hàng để doanh nghiệp thực hiện CSR nội bộ bằng cách xây dựng môi trường làm việc an toàn, cởi mở, thân thiện và phát triển.
Thương hiệu kem nổi tiếng của Mỹ Ben & Jerry’s đã xây dựng một “Đội ngũ niềm vui”. Thành viên trong đội là những nhân viên tình nguyện, có nhiệm vụ giúp cho công việc thường ngày của các nhân viên trong Công ty không nhàm chán với những chương trình như “Ngày thưởng thức pizza và massage thư giãn”; “Ngày trang phục kỳ cục toàn quốc”...
 Một khi đã sử dụng các nguồn lực xã hội để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải xem mình là “công dân doanh nghiệp”, có nhiệm vụ góp phần tái thiết, duy trì và phát triển cộng đồng.
Với ý thức này, Ben & Jerry’s đã chi 7,5% tổng lợi nhuận trước thuế hằng năm để ủng hộ, tài trợ cho những dự án cộng đồng. Công ty còn phát động những dự án phi lợi nhuận như “Một phần trăm vì hòa bình” để thay mặt khách hàng phản đối việc mở nhà máy nguyên tử ở Seabrook (New Hampshire, Mỹ) năm 1990, hay lễ hội thường niên “1 trái tim - 1 thế giới” nhằm tôn vinh nghệ thuật, âm nhạc, ẩm thực và những hoạt động xã hội khác.
 Việc sử dụng nguyên liệu xanh, áp dụng các biện pháp tái chế hay sản xuất các sản phẩm ít tiêu hao năng lượng sẽ hướng doanh nghiệp đến phát triển bền vững.
“Đến một ngày nào đó, những người như tôi có thể bị tống vào tù”, Ray Anderson, Tổng Giám đốc Tập đoàn Interface, chuyên sản xuất thảm, hóa chất, vải sợi… với doanh thu hằng năm hơn 1 tỉ USD, đã thổ lộ như thế tại buổi nói chuyện với 500 nhà thiết kế nội thất ở Boston (Mỹ) năm 1996. Trong cuốn sách Sửa Sai Đường Lối: Hướng Đến Một Sự Nghiệp Bền Vững, ông đã nhận ra đường lối kinh doanh “lạm dụng” của mình và chuyển hướng bằng cách tăng cường sử dụng nguyên liệu hữu cơ lấy từ thực vật để sản xuất thảm thay cho nguyên liệu vô cơ là dầu hỏa như trước.

Trong bối cảnh hậu khủng hoảng kinh tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp trên khắp thế giới vẫn đang xây dựng và triển khai các chương trình văn hóa kinh doanh để giải quyết các vấn đề pháp lý, đạo đức, trách nhiệm xã hội và môi trường mà họ phải đối mặt. Bằng việc giải quyết những vấn đề này một cách hệ thống, các doanh nghiệp có thể cải thiện hoạt động kinh doanh, mở rộng thị trường, tạo dựng uy tín và đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của toàn xã hội.
1.2. Tình hình ở Việt Nam
 Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, những người tiêu dùng, nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức phi chính phủ trên toàn cầu ngày càng quan tâm hơn tới ảnh hưởng của việc toàn cầu hoá đối với quyền của người lao động, môi trường và phúc lợi cộng đồng. Những doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội có thể sẽ không còn cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế.
 Mặc dù thực tế trên thế giới đã cho thấy rằng doanh nghiệp nào thực hiện tốt trách nhiệm xã hội thì lợi ích của họ không những không giảm đi mà còn tăng thêm, nhưng đáng buồn phải thừa nhận một thực trạng rằng: nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam đã không thực hiện nghiêm túc trách nhiệm xã hội của mình!

 Điều này thể hiện ở các hành vi gian lận trong kinh doanh, sản xuất hàng kém chất lượng, cố ý gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, hầu hết doanh nghiệp vi phạm các quy định pháp luật về lương bổng, chế độ bảo hiểm, an toàn lao động…Cụ thể, trong năm 2011, trên toàn quốc đã xảy ra 5.896 vụ tai nạn lao động, làm 6.154 người bị nạn, trong đó có 574 người chết, 1.314 người bị thương nặng.
Bảng: Những nguyên nhân để xảy ra tai nạn lao động do người sử dụng lao động năm 2011
STT Nguyên nhân Số vụ Tỷ lệ/ Tổng số vụ báo cáo
1 Không huấn luyện về an toàn lao động cho NLĐ 460 7.8%
2 Không có quy trình, biện pháp an toàn lao động 206 3.49%
3 Do tổ chức lao động 199 3.37%
4 Thiết bị không đảm bảo an toàn 186 3.15%
5 Không có thiết bị an toàn 137 2.32%
6 Không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động 82 1.39%
Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2012), Thông báo tình hình tai nạn lao động năm năm 2011, ban hành ngày 10 tháng 02 năm 2012

 Liên quan đến lĩnh vực xử lý vi phạm môi trường cả nước trong năm 2012, báo cáo tổng kết năm 2012 của Tổng cục Môi trường cho thấy qua kiểm tra trong năm 2012, Tổng cục đã đề nghị xử lý 157 cơ sở sản xuất vi phạm môi trường với tổng số tiền phạt gần 33 tỉ đồng.
 Bên cạnh đó, không ít doanh nghiệp vi phạm quy định về thời gian làm việc. Nhiều công ty bắt công nhân phải làm từ 10-12 giờ/ngày, không trả lương làm thêm giờ, không giải quyết chế độ nghỉ bù. Đặc biệt, có nhiều trường hợp lao động nữ mang thai đến tháng thứ 7 vẫn phải làm việc trên 10 giờ/ngày.
 Không chỉ thiếu trách nhiệm với người lao động, không ít doanh nghiệp còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tác động xấu đến đời sống của cộng đồng. Điển hình là Công ty Vedan bức tử sông Thị Vải, Công ty Tung Kuang đầu độc sông Cầu Ghẽ... Đối với người tiêu dùng, nhiều doanh nghiệp cũng xem nhẹ tính mạng của “thượng đế” qua việc sản xuất thực phẩm chứa chất có hại cho sức khỏe con người như nước tương chứa chất gây ung thư, bánh phở chứa phoóc môn, thực phẩm chứa hàn the…
Vậy, đâu là nguyên nhân dẫn đến thực trạng đáng buồn trên, phải chăng doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn không muốn thực hiện trách nhiệm xã hội của mình ?
1.2.1 Rào cản, thách thức
 Hiện đang có những ý kiến khác nhau về nguyên nhân dẫn đến việc không thực hiện trách nhiệm xã hội của nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam :

 Một số người cho rằng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam chưa được luật hóa ở tất cả các doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp lớn có thị trường xuất khẩu, do yêu cầu của khách hàng nên buộc phải thực hiện trách nhiệm xã hội, còn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, do khó khăn về tài chính và thiếu ràng buộc về pháp lý nên nhiều doanh nghiệp chỉ hiểu trách nhiệm xã hội là “các khoản đóng góp từ thiện”.
 Một số người khác cho rằng, việc thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ làm tăng chi phí cho doanh nghiệp, làm giảm khả năng cạnh tranh ban đầu mà chưa thấy ngay được lợi ích trước mắt, do đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ không muốn thực hiện trách nhiệm xã hội.

 Nói tóm lại, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam còn tương đối khó khăn. Sở dĩ như vậy trước hết là do sự hiểu biết chưa đầy đủ của doanh nghiệp về trách nhiệm xã hội; trách nhiệm xã hội doanh nghiệp chỉ đơn thuần được hiểu là các khoản đóng góp từ thiện. Thứ hai, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng gây ra những khó khăn không nhỏ cho các doanh nghiệp do thiếu nguồn vốn và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã hội. Điều này đặc biệt khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong khi đó hầu hết các doanh nghiệp ở Việt Nam là những doanh nghiệp vừa và nhỏ.

 Nói một cách toàn diện hơn, theo nghiên cứu năm 2002 của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, những rào cản và thách thức lớn nhất cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm:

 Nhận thức về trách nhiệm xã hội trong và giữa các doanh nghiệp Việt Nam còn có sự khác nhau khá lớn.
 Năng suất lao động bị ảnh hưởng khi phải thực hiện đồng bộ nhiều bộ quy tắc ứng xử (CoC).
 Thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ).
 Sự khác biệt giữa Bộ luật lao động và bộ quy tắc ứng xử của khách đặt hàng gây nhầm lẫn cho doanh nghiệp, chẳng hạn như vấn đề làm thêm hay hoạt động của công đoàn.
 Sự thiếu minh bạch trong việc áp dụng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trên thực tế đang cản trở lợi ích thị trường tiềm năng mang lại cho doanh nghiệp.
 Mâu thuẫn trong các quy định của nhà nước khiến cho việc áp dụng bộ quy tắc ứng xử không đem lại hiệu quả mong muốn, ví dụ như mức lương, phúc lợi và các điều kiện tuyển dụng.

Những nguyên nhân được liệt kê ra trên đây có thể quy lại thành ba nguyên nhân chính, đó là nguyên nhân về nhận thức,nguyên nhân kinh tế và nguyên nhân pháp lý. Do đó, để nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, cần bám sát những nguyên nhân nói trên để đề ra những giải pháp phù hợp!
1.2.2 Cơ hội và chính sách hỗ trợ:
 Trái với những rủi ro và thách thức phải đối mặt, việc thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ tạo ra nhiều cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam phát triển và nâng cao vị thế của mình. Ông Martin Neureiter – chuyên gia cao cấp, Trưởng ban phụ trách triển khai ISO 26000 đã khẳng định : “Chúng ta đừng nên coi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một gánh nặng mà nên coi đó là cơ hội, là mục đích tự thân, là một kinh nghiệm để doanh nghiệp hoạt động tốt hơn chứ không phải là một gánh nặng của chi phí, áp lực từ phía Nhà nước. Do đó, hãy tìm các giải pháp để phát triển tốt hơn cho nơi mình đang sống”. Trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay việc kinh doanh bền vững và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, doanh nhân, đặc biệt là sự phối hợp, tham gia giữa doanh nghiệp với các bên liên quan sẽ giúp doanh nghiệp vượt qua các rào cản kỹ thuật, thâm nhập thị trường quốc tế, nâng cao khả năng cạnh tranh và đảm bảo sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam. Cụ thể các cơ hội mà việc thực hiện trách nhiệm xã hội có thể mang lại như sau:

 Tận dụng tiến bộ của khoa học – kỹ thuật.
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, thiết bị máy móc phục vụ sản xuất ngày càng hiện đại, góp phần tăng sản lượng đồng thời giảm chi phí sản xuất giúp doanh nghiệp đạt lợi nhuận cao hơn. Hơn thế nữa, việc tận dụng công nghệ cao trong sản xuất còn góp phần bảo vệ môi trường, tăng chất lượng an toàn cho sản phẩm. Chẳng hạn như công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk không chỉ chú trọng về an toàn vệ sinh thực phẩm, mà còn đặt yếu tố thân thiện với môi trường lên hàng đầu. Chính vì thế, các nhà máy của Công ty đều được trang bị các dây chuyền công nghệ hiện đại được nhập trực tiếp từ Pháp, Đức, Đan Mạch, Thụy Điển… nhằm góp phần giảm thiểu mức tiêu hao nước, nhiên liệu và năng lượng. Lượng nước đã qua xử lý và thải ra môi trường năm 2010 giảm bình quân 17,1% trên 1 tấn sản phẩm so với năm 2009 là minh chứng rõ nét cho những nỗ lực này. Vinamilk tiếp tục hướng tới việc sử dụng các loại bao bì thân thiện với môi trường và triển khai các dự án xây dựng hệ thống Biogas cho các trang trại bò, nhằm góp phần giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Việc làm này đã đem lại những thành công rất lớn cho Vinamilk.

 Học tập các phương pháp thực hiện trách nhiệm xã hội hữu hiệu của các doanh nghiệp trên thế giới.
Trong môi trường hợp tác cùng có lợi như hiện nay, chúng ta được hưởng lợi cùng với đối tác từ góc độ người tiêu dùng không chỉ về mặt kinh tế mà còn là giải quyết các vấn đề về môi trường. Hơn thế, người tiêu dùng các nước bây giờ không chỉ quan tâm đến những quyết định kinh tế trong nội khối mà còn chú ý nhiều hơn tới các vấn đề xã hội. Việc thực hiện trách nhiệm xã hội tốt sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội được tiếp xúc với các doanh nghiệp trên thế giới. Trên cơ sở đó nắm bắt và học hỏi những phương pháp kinh doanh hiệu quả của nước bạn. Từ đây, tiếp thu và xây dựng chiến các lược kinh doanh độc đáo ở Việt Nam. Ví dụ, Canada là nước lớn trong ngành khai khoáng trên thế giới. Đây là ngành có vốn đầu tư và nhiều hoạt động đáng kể tại Việt Nam. Đại sứ Canada Deanna Horton cho biết: Thực hiện trách nhiệm xã hội hiệu quả sẽ đem lại lợi ích trước hết cho doanh nghiệp, làm tăng niềm tin cho đối tác, giúp xây dựng thương hiệu và tăng tính hấp dẫn đối với người tiêu dùng. Ông Trịnh Xuân Bền - Cục phó Cục Địa chất và Khoáng sản, Bộ Tài nguyên - Môi trường - cho biết: Việt Nam rất mong muốn học hỏi kinh nghiệm của Canada để dần dần đưa vào áp dụng tại Việt Nam. Với nhiều nỗ lực, Việt Nam cũng đã thể hiện rất rõ điều này trong chiến lược phát triển trung hạn của mình, đó là trở thành một nước công nghiệp từ sử dụng tài nguyên lao động sang nguồn phát triển năng lượng sạch. Việc làm này không những góp phần bảo vệ tài nguyên, môi trường mà còn thu hút một lượng vốn đầu tư lớn từ nước ngoài.
 Nâng cao uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp trong cộng đồng và với đối tác; góp phần xây dựng văn hóa doanh nghiệp lành mạnh từ đó tăng cường sự tin tưởng và sự gắn bó của nhân viên với doanh nghiệp. Đồng thời, các nhân viên trong công ty sẽ cảm thấy tự hào, kính trọng đội ngũ lãnh đạo và sẽ gắn bó với công ty hơn.
Đối với người lao động tại Doanh nghiệp, CASUCO luôn thực hiện đúng pháp luật lao động, tôn trọng vào tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tổ chức Đảng, đoàn thể hoạt động tốt ; Đời sống tinh thần, vật chất của CNLĐ luôn được nâng cao và gắn với hiệu quả, kết quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp, thu nhập của CNLĐ ngày càng tăng … CASUCO đã được công nhận và đang thực hiện có hiệu quả các hệ thống quản lý chất lượng, môi trường và an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008, 14001:2004, 22000:2005, TCVN 7968:2008.
Đối với hoạt động “ Vì người nghèo ” hằng năm CASUCO luôn tích cực đóng góp cho Mặt trận tổ quốc Tỉnh, Hội chử thập đỏ tỉnh, các Huyện, Thị, Thành phố thông qua các chương trình : xây nhà tình thương, nhà tình thương đồng đội, CASUCO trực tiếp tổ chức chương trình vui tết cùng người nghèo, khám bệnh cấp thuốc, cấp quà miễn phí cho người nghèo … CASUCO đồng hành cùng hoạt động đào tạo nguồn nhân lực, giáo dục, khuyến học, khuyến tài … hằng năm CASUCO đã trao tặng từ 30 đến 50 ngàn quyển tập học sinh cho trẻ em nghèo hiếu học, cùng Hội khuyến học tỉnh Hậu Giang trao từ 10 đến 30 suất học bổng ( Mỗi suất trị giá 1 triệu đồng ) cho sinh viên nghèo của tỉnh Hậu Giang học tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh, trao từ 40 đến 70 suất học bổng cho con em nông dân trồng mía giỏi ( câu lạc bộ 200 tấn mía/ha ) trong vùng nguyên liệu, trao hàng trăm phần quà cho con CNLĐ tại Doanh nghiệp vượt khó học giỏi qua các niên học … CASUCO đồng hành cùng Hội chữ thập đỏ tỉnh Hậu Giang trong phong trào hiến máu nhân đạo, tình nguyện với việc tài trợ các chi phí vận động tuyên truyền, tặng quà cho người hiến máu, hỗ trợ cho 20 gia đình nạn nhân chất độc màu da cam, người nghèo vay vốn không tính lãi nhằm cải thiện kinh tế gia đình ( 60 triệu đồng ), ngoài ra, trong thời gian qua CASUCO còn tích cực thực hiện cuộc vận động “ mỗi tổ chức, mỗi cá nhân gắn với một địa chỉ nhân đạo ” do Hội chữ thập đỏ tỉnh Hậu Giang phát động … CASUCO đồng hành cùng các hoạt động phục vụ tinh thần, văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao trong tỉnh Hậu Giang – là Doanh nghiệp quen thuộc tài trợ cho các chương trình bắn pháo bông, vui xuân, đón tết, đua ghe ngo hằng năm của tỉnh, tài trợ giải bóng chuyền nam, nữ tranh cúp CASUCO ( năm 2010, 2011) và rất nhiều hoạt động hỗ trợ khác…CASUCO đồng hành cùng các địa phương thuộc vùng mía nguyên liệu xây dựng 48 cây cầu bêtông xoá cầu khỉ ở nông thôn, triển khai thực hiện các cuộc hội thảo đầu bờ,tham quan học tập, tuyên truyền, phổ biến kỷ thuật canh tác mía giống mới, xây nhà tình thương, phát triển và nhân rộng câu lạc bộ 200tấn mía/ha, 20 tấn đường/ha canh tác mía … đã chủ động tiêu thụ hết mía nguyên liệu trong nông dân và góp phần tăng thu nhập cho các hộ nông dân trên cùng một diện tích canh tác mía trong vùng nguyên liệu của Doanh nghiệp so thời gian trước đây…Hằng năm CASUCO đã chi từ 3 đến 5 tỷ đồng cho các hoạt động kể trên ; Rất nhiều lĩnh vực CASUCO đã và đang đồng hành cùng các Sở, Ban, Ngành, Đoàn thể, địa phương trong và ngoài tỉnh Hậu Giang phục vụ các hoạt động, góp phần hoàn thành nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của tình nhà. Qua những hoạt động và việc làm thiết thực như nêu trên, phải công nhận rằng : “ CASUCO – Doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, vì cộng đồng ” !
 Để giúp các doanh nghiệp thực hiện tốt hơn trách nhiệm xã hội, Nhà nước cũng có một số chính sách hỗ trợ như sau:
 Chính phủ cần ưu đãi các chế độ chính sách cho người lao động.
 Cần có các đoàn thanh tra kiểm tra đào tạo người lao động và người sử dụng lao động cùng thấu hiểu quyền lợi của mình theo ý nghĩa của sự phát triển bền vững cho người lao động.
 Nhà nước có những cơ chế, quy định khuyến khích doanh nghiệp thông qua việc cho phép đưa các chí phí thực hiện trách nhiệm xã hội vào chi phí sản xuất kinh doanh.
 Việc thực hiện tốt trách nhiệm xã hội là một trong các tiêu chí đánh giá để doanh nghiệp có được hưởng những ưu đãi về đầu tư và sử dụng nguồn lực của quốc gia.
Tóm lại, khi thực hiện CSR, doanh nghiệp sẽ gặp phải những khó khăn, thách thức. Trước tiên là về khâu chi phí thực hiện các trách nhiệm xã hội. Bởi chi phí thực hiện trách nhiệm xã hội cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất kinh doanh, lợi nhuận sẽ bị thu hẹp trong ngắn hạn và có thể cả trung hạn. Bên cạnh đó, việc thực hiện CSR cũng sẽ mang lại nhiều lợi ích và những cơ hội để doanh nghiệp phát triển bởi về dài hạn những chi phí thực hiện CSR trên sẽ được bù đắp bởi những lợi ích mà CSR mang lại.
2. Giải pháp.

 Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam là một công việc không thể bỏ qua trên con đường hội nhập, vừa lợi ích cho doanh nghiệp, vừa lợi ích cho xã hội, đặc biệt là nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, của quốc gia và hỗ trợ thực hiện tốt hơn Luật pháp Lao động tại Việt Nam, cũng là nội dung quan trọng trong xây dựng văn hoá doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện đại. Tuy nhiên, thực tế việc thực hiện trách nhiệm xã hội ở Việt Nam hiện nay chưa tốt, vì vậy để định hướng và tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của mình, cần phải thực hiện một số giải pháp sau đây:


 Thứ nhất, về phía các doanh nghiệp cần phải tự nhận thức được tầm quan trọng của việc có trách nhiệm xã hội, từ đó mới thực hiện được tốt trách nhiệm xã hội của mình một cách tự giác, có hiệu quả. Vì vậy, cần tuyên truyền, giáo dục cho tất cả các doanh nghiệp, trước hết là các chủ doanh nghiệp về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, phải làm cho họ hiểu đúng bản chất của vấn đề. Công tác tuyên truyền, giáo dục rất quan trọng, bởi tất cả những hành vi của con người đều thông qua ý thức, đều do ý thức của họ điều khiển. Do đó, vấn đề đặt ra là, phải làm sao cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trở thành động cơ bên trong của các chủ doanh nghiệp. Việc thực hiện trách nhiệm xã hội trước hết cần được xem là một hành vi đạo đức và được điều khiển bằng động cơ đạo đức. Đây chính là giải pháp bên trong. Cơ chế tự nguyện cần được khuyến khích vì đó là sự tương tác giữa doanh nghiệp và xã hội. Nhà nước góp phần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tự giác thực hiện trách nhiệm xã hội thông qua các cơ chế như NGOs, hiệp hội, mạng lưới cộng đồng, giáo dục, nâng cao ý thức người lao động, người tiêu dùng.
 Thứ hai, doanh nghiệp không thể chỉ sống nhờ vào trách nhiệm xã hội. Để phát triển lâu dài, doanh nghiệp cần tạo ra lợi nhuận. Lợi nhuận và trách nhiệm xã hội có thể song hành, thực tế là trong dài hạn, việc quản lý doanh nghiệp theo hướng có trách nhiệm với xã hội thường đem lại tăng trưởng bền vững và lợi nhuận lớn hơn. Hiểu được điều này cũng sẽ giúp các doanh nghiệp tự giác thực hiện CSR hơn.
 Thứ ba, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội là một tiêu chí quan trọng đối với người tiêu dùng, chúng ta cần phải làm cho tiêu chí này phổ biến hơn và đưa CSR trở thành tiêu chí cạnh tranh của các doanh nghiệp, bên cạnh yếu tố chất lượng và giá cả. Từ đó, các doanh nghiệp sẽ cố gắng thực hiện tốt trách nhiệm xã hội một cách tự giác để thu hút khách hàng, cạnh tranh với đối thủ. Nhà nước và người tiêu dùng cũng cần giám sát chặt chẽ việc thực hiện CSR của doanh nghiệp thông qua những công việc cụ thể như: Doanh nghiệp phải biết quan tâm đến người lao động, người làm công cho mình không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần, buộc người lao động làm việc đến kiệt sức hoặc không có giải pháp giúp họ tái tạo sức lao động của mình là điều hoàn toàn xa lạ với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; Phải tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ, không được phân biệt đối xử về mặt giới tính trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa trên sự công bằng về năng lực của mỗi người; Không được phân biệt đối xử, từ chối hoặc trả lương thấp giữa người bình thường và người bị khiếm khuyết về mặt cơ thể hoặc quá khứ của họ; Phải cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt, không gây tổn hại đến sức khoẻ người tiêu dùng, đây cũng là một tiêu chí rất quan trọng thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng; Dành một phần lợi nhuận của mình đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng đồng. Vì cộng đồng và san sẻ gánh nặng với cộng đồng đang là một mục tiêu mà các doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội đang hướng tới bên cạnh mục tiêu phát triển lợi nhuận của mình, như các chương trình hỗ trợ châu Phi, châu Á trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe của nhà tỷ phú Bill Gates là một ví dụ tiêu biểu. Quả thực, sẽ có nhiều trẻ em được cứu sống hơn, nhiều trẻ em được đến trường hơn…, nếu các doanh nghiệp sẵn sàng chia sẻ lợi ích với cộng đồng.
 Thứ tư, bên cạnh ý thức của các doanh nghiệp, nhà nước cần xây dựng một hành lang pháp lý bắt buộc các doanh nghiệp phải thực thi trách nhiệm xã hội một cách đầy đủ và nghiêm túc. Điều này liên quan đến trách nhiệm của nhà nước trong việc tạo môi trường và khung pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật để có những biện pháp xử lý kịp thời khi các doanh nghiệp vi phạm giúp cho việc thực thi pháp luật được tốt hơn, bảo đảm một môi trường cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp.Củng cố các khâu yếu trong hệ thống thực thi và soát xét các biện pháp chế tài một cách xác đáng để đảm bảo hiệu lực của luật pháp. Xây dựng cơ chế chuẩn hóa, giám sát phối hợp giữa đội ngũ thanh tra và đội ngũ các chuyên gia đánh giá, công ty đánh giá cấp chứng chỉ. Khung pháp lý chính là biện pháp có hiệu lực nhất đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; đồng thời, là giải pháp hỗ trợ đắc lực cho giải pháp về đạo đức, làm cho các động cơ đạo đức thường xuyên được củng cố và ngày càng có hiệu lực trên thực tế. Cái khó khăn cho Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung là trong bối cảnh cần phải thu hút đầu tư nước ngoài, nếu đặt nặng các mục tiêu về môi trường và xã hội thì các doanh nghiệp khó có thể làm được điều này. Nhưng, nếu không đặt mạnh vấn đề thực hiện CSR của doanh nghiệp thì những hậu quả về môi trường và xã hội sẽ không thể bù đắp được bằng các kết quả của sự tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu phát triển bền vững, do vậy, cũng không thể thực hiện được. Vì vậy, nhà nước nên tăng mức phạt đối với các doanh nghiệp không thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, vì với mức phạt hiện tại, lợi nhuận của các doanh nghiệp vi phạm trách nhiệm xã hội sau khi nộp phạt vẫn cao hơn so với việc họ chấp hành đúng luật. Ví dụ như công ty Vedan đã xả nước thải xuống sông Thị Vải gây ô nhiệm môi trường nặng nề.Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải hiện đại là khá tốn kém, vì mục đích lợi nhuận họ chấp nhận vi phạm và nộp phạt, vì số tiền phạt so với số tiền xây dựng hệ thống xử lý nước thải chẳng thấm vào đâu. Tuy nhiên, họ đã phải chịu sức ép của dư luận trong và lượng khách hàng suy giảm trong một thời gian. Bên cạnh đó, cần có các nghiên cứu cơ bản, khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp đã thực hiện và sẽ thực hiện các bộ quy tắc ứng xử (**), để phát hiện những thuận lợi cũng như các rào cản, khó khăn, thách thức, từ đó khuyến nghị các giải pháp xúc tiến thực hiện trong thời gian tới. Có thể thấy, trong quá trình thực hiện trách nhiệm xã hội và các bộ quy tắc ứng xử, các doanh nghiệp phải chi phí khá lớn cho đầu tư để cải thiện các điều kiện vệ sinh lao động và môi trường. Trong điều kiện cạnh tranh, nhiều doanh nghiệp không thể trang trải nổi những khoản chi này, bởi vậy có thể nhà nước phải hỗ trợ cho vay từ quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ xúc tiến thương mại… với một chính sách ưu tiên, ưu đãi. Ngoài ra, cũng nên có những chính sách khen thưởng hợp lý đối với các doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội (có thể bằng vật chất như giảm thuế hoặc tinh thần như giới thiệu khách hàng, đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng, trao tặng danh hiệu…). Phát triển một bộ phận các doanh nghiệp thực hiện tốt bộ quy tắc ứng xử về trách nhiệm xã hội tạo đà cho các doanh nghiệp khác thực hiện tiến tới việc thực hiện một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực tạo điều kiện cho việc thực thi pháp luật ngày càng tốt hơn.
 Trong năm 2013, Tổng cục Môi trường cho biết sẽ tập trung thanh tra việc chấp hành các quy định về môi trường đối với các cơ sở hành nghề quản lý chất thải nguy hại; các dự án cơ sở xản xuất, kinh doanh, các cơ sở, khu công nghiệp, cụm công nghiệp gây ô nhiễm các lưu vực sông; các cơ sở khai thác, chế biến và tàng trữ dầu khí, thắt chặt quản lý nhập khẩu, quá cảnh và lưu giữ phế liệu, chất thải tại các cảng biển.
 Thứ năm, hình thành kênh thông tin về trách nhiệm xã hội cho các doanh nghiệp, nhất là cung cấp các thông tin cập nhật về các bộ quy tắc ứng xử; tư vấn cho các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện trách nhiệm xã hội và các Bộ quy tắc ứng xử… Ở đây vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp (Hội dệt may, Hội giày da, Hội xuất khẩu thuỷ sản…) của Hội Công Thương, Văn phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các Bộ, ngành là rất lớn.
(**) : Bộ Quy tắc ứng xử về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực lao động chủ yếu thông qua các Bộ Quy tắc ứng xử Trách nhiệm xã hội. Các bộ Quy tắc quy định về xã hội, môi trường và đạo đức giúp các doanh nghiệp thực hiện các tiêu chuẩn cao hơn luật pháp quốc gia và đối với các nhà cung ứng (bên bán) phải được giám sát việc thực hiện cũng như kiểm tra độc lập thường xuyên. Các Bộ Quy tắc này bắt đầu xuất hiện từ đầu những năm 1990. Bộ đầu tiên do Levi Straus xây dựng năm 1991. Hiện nay ước tính có khoảng hơn 1000 Bộ Quy tắc ứng xử do các công ty đa quốc gia xây dựng, trong đó có SA8000 do tổ chức quốc tế về Trách nhiệm xã hội của Mỹ xây dựng (Social Accountability International – SAI).
Nội dung của các Bộ Quy tắc ứng xử đầu tiên rất khác nhau, nhưng ngày nay các Bộ Quy tắc này chủ yếu tập trung vào các tiêu chuẩn của ILO. Hầu hết các bộ Quy tắc này đều gồm 10 điểm, thể hiện các nguyên tắc trong công ước cơ bản của ILO, chẳng hạn SA8000 có các quy định về Trách nhiệm xã hội sau : 1. Lao động trẻ em; 2. Lao động cưỡng bức; 3. An toàn và vệ sinh lao động; 4. Tự do hiệp hội và quyền thoả ước lao động tập thể; 5. Phân biệt đối xử; 6. Xử phạt; 7. Giờ làm việc; 8. Trả công; 9. Hệ thống quản lý.


KẾT LUẬN
Trách nhiệm xã hội đã và đang tồn tại trong các Doanh nghiệp ở các trên thế giới từ lâu. Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng và uy tín của doanh nghiệp trong cạnh tranh kinh doanh.
Ở Việt Nam, đây là một vấn đề khá mới mẻ. Tuy nhiên, trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và nhiều vấn đề tiêu cực về xã hội và môi trường bị ảnh hưởng ngày càng nhiều bởi hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, doanh nghiệp Việt Nam muốn tồn tại và phát triển thì việc thực hiện trách nhiệm xã hội là một yêu cầu bức thiết.
Trách nhiệm xã hội là công cụ đắc lực giúp doanh nghiệp Việt Nam gây dựng nên thương hiệu uy tín trong lòng người tiêu dùng trong và ngoài nước. Việc thực hiện hóa trách nhiệm xã hội là bước đi mang tầm quan trọng chiến lược đối với một doanh nghiệp muốn nâng cao vị thế của mình, nâng tầm sức cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước nói riêng và các doanh nghiệp trên thế giới nói chung.
Nói cách khác,các doanh nghiệp Việt Nam muốn hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong tương lai, thì trách nhiệm xã hội là một thành phần cốt lõi cần thiết phải thực hiện.

Trả Lời Với Trích Dẫn