Thư Viện Tài Liệu Tổng Hợp

TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu tổng hợp hoàn toàn miễn phí dành cho mọi người

Hãy sử dụng chức năng tìm kiếm bên dưới để tìm tài liệu trước khi post yêu cầu liên diễn đàn!

Loading

VanMau.VN - Thư viện văn mẫu Việt Nam
+ Viết bài mới  + Trả lời bài viết
 
LinkBack Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 02-11-2012, 06:00 PM
Admin's Avatar
Administrator
 
Tham gia: Jun 2011
Tổng số bài gởi: 4,541



Bài văn mẫu: Bạch Đằng Giang Phú

Bài mẫu 1:

Bạch Đằng giang phú
TRƯƠNG HÁN SIÊU


1. Thể loại

Phú là một thể văn có xuất xứ từ Trung Quốc, thịnh hành vào thời Hán. Phú dùng lối văn có nhịp điệu nhằm miêu tả, trình bày sự vật để biểu hiện tư tưởng tình cảm của tác giả. Phú có bốn loại chính: Cổ phú, Bài phú, Luật phú và Văn phú.

2. Tác giả

Trương Hán Siêu (? – 1354), tự là Thăng Phủ, người xã Phúc Thành, huyện Yên Ninh, nay là thị xã Ninh Bình, từng làm môn khách trong nhà Trần Hưng Đạo. Làm quan từ triều Trần Anh Tông đến triều Trần Dụ Tông. Trương Hán Siêu tính tình cương trực, học vấn uyên thâm, sinh thời được các vua Trần tin cậy, nhân dân kính trọng. Ông sống vào thời kì nhà Trần đã suy yếu, mải mê với chiến thắng của cha ông, các vua Trần đã quên trách nhiệm và mải ăn chơi hưởng thụ, quên việc chấn hưng đất nước. Đây là một trong những nguyên nhân xã hội dẫn đến tâm trạng nuối tiếc quá khứ trong thơ Trương Hán Siêu.

3. Tác phẩm

Bài Phú sông Bạch Đằng chưa rõ được viết năm nào, có thể vào khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến chống giặc Mông  Nguyên thắng lợi. Bài phú viết về sông Bạch Đằng, một con sông ghi dấu nhiều chiến công hiển hách trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, từ thời Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán đến nhà Trần chiến thắng Mông  Nguyên, đều là những đạo quân xâm lược hùng mạnh của phương Bắc.
Bài phú được viết theo lối phú cổ thể, có vần nhưng câu văn tương đối tự do, không bị gò bó vào niêm luật. Bài phú là cảm xúc hoài niệm của tác giả về những chiến thắng lẫy lừng của quân dân nhà Trần trên sông Bạch Đằng vào thời điểm nhà Trần đang suy thoái. Tác phẩm vừa chứa chan niềm tự hào, vừa đọng nỗi đau, vừa thể hiện triết lí về sự đổi thay, biến thiên và xoay vần của tạo hoá.

4.Đọc hiểu

Bạch Đằng, dòng sông ghi dấu bao chiến công hiển hách của dân tộc trong lịch sử chống giặc ngoại xâm. Đó là nơi hội tụ sức mạnh, chiến công và niềm tự hào dân tộc. Bạch Đằng giang còn là nơi hội tụ những chiến tích thơ ca. Có thể nhắc đến Trần Minh Tông với Bạch Đằng giang, Nguyễn Trãi với Bạch Đằng hải khẩu… và Trương Hán Siêu với tác phẩm nổi tiếng Phú sông Bạch Đằng (Bạch Đằng giang phú).

Bài phú của Trương Hán Siêu làm theo lối phú cổ thể có vần không có đối, âm luật khá tự do, linh hoạt. Cả bài là một thiên đoản trường ca vừa tự hào, nhớ tiếc, vừa suy nghĩ trầm lắng, sâu xa.

Bài phú có hai phần : phần độc thoại với khách và phần đối thoại giữa khách với các bô lão bên sông. Kết cấu bài phú hình thành hai tuyến nhân vật. Nhân vật khách, cũng là sự phân thân của tác giả và nhân vật tập thể : các bô lão địa phương. Xuất hiện với tư cách là đối tượng tâm tình, nhân vật các bô lão có thể là thực  đó là những người tác giả gặp trên đường thoả chí tiêu dao, thậm chí, họ có thể là những người trước đây đã làm nên chiến công trên dòng sông lịch sử ấy, song cũng có thể họ chỉ là những nhân vật hư cấu. Hư cấu nhân vật, hư cấu ra cuộc đối thoại là cách để tác giả gián tiếp bày tỏ những suy ngẫm của mình về đất nước, về nhân dân, về dòng sông lịch sử.

Mở đầu bài phú là lời giới thiệu nhân vật khách  con người ung dung, tự tại, đam mê say đắm cảnh sắc thiên nhiên :

Khách có kẻ :
Giương buồm giong gió chơi vơi,
Lướt bể chơi trăng mải miết.

Không chỉ dạo chơi để thưởng ngoạn vẻ đẹp của non sông đất nước, khách còn là người mà "tráng chí bốn phương" lúc nào cũng "vẫn còn tha thiết". Con người của những hoài bão lớn :

Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết.
Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều,

Đoạn đầu này sử dụng triệt để thủ pháp tượng trưng. Cái "tráng chí bốn phương" của khách được dựng nên bằng những địa danh. Có loại địa danh gợi ra thời gian quá khứ xa xăm :

Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương,
Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt.
Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,

Những địa danh này đều là những điển cố được khách thăm thú chủ yếu qua sách vở Trung Hoa. Nhưng cũng có những địa danh hiện hữu gần gũi mà tác giả đã trực tiếp đặt chân : cửa Đại Than, bến Đông Triều. Thời gian đằng đẵng, xa xăm ; không gian rộng lớn, kì vĩ đủ nói lên cái chí khí lớn lao, khoáng đạt và sự thảnh thơi của nhân vật trữ tình.

Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông Triều, thuyền của khách đến cửa Bạch Đằng. Cảnh thiên nhiên trước mắt hiện ra thật hùng vĩ :

Bát ngát sóng kình muôn dặm,
Thướt tha đuôi trĩ một màu.

Song thời gian gợi buồn (ba thu : tháng cuối mùa thu) nên cảnh có nét ảm đạm, buồn hiu hắt :

Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu.

Trở lại chiến trường xưa, nơi ghi dấu bao chiến công hiển hách, cảnh dù vẫn hùng vĩ và khoáng đạt nhưng cũng có những nét lạnh lẽo, hoang vu. Khách động lòng hoài cổ :

Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô.
….
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu !

Thời gian vô tình và nghiệt ngã đang làm mờ đi những dấu son lịch sử. Cảnh tĩnh lặng, lòng người ngưng đọng, trầm lắng, suy tư. Đang buồn đau, nhớ tiếc, sự xuất hiện của các bô lão làm khách tan biến những băn khoăn. Khách trở về cùng thực tại. Thế là trận thuỷ chiến năm xưa được các bô lão kể lại cho khách nghe một cách hào hứng.

Sau lời kể ngắn gọn về trận "Ngô chúa phá Hoằng Thao", các bô lão kể ngay đến chiến công : buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã. Dù đã qua 50 năm nhưng trận chiến dường như vẫn còn nóng hổi. Dù được kể lại nhưng trận chiến vẫn bừng bừng âm hưởng quyết liệt, gay go. Từ lúc xuất quân đầy khí thế :

Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới,
Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói.
cũng là lúc giặc :
Những tưởng gieo roi một lần,
Quét sạch Nam bang bốn cõi !
đến lúc :
Trận đánh được thua chửa phân,
Chiến luỹ bắc nam chống đối.

Lời văn đột nhiên thay đổi, câu ngắn, nhịp nhanh, hình tượng kì vĩ, ý đối nhau rất chỉnh gợi tưởng tượng trận chiến ác liệt giữa chính nghĩa với gian tà như đang diễn ra ngay trước mắt. Thế nhưng :

Trời cũng chiều người,
Hung đồ hết lối !

Quân giặc đại bại tử vong. Chiến thắng thuộc về chính nghĩa. Nỗi nhục của giặc trở thành vết nhơ đến mãi muôn đời :

Đến nay nước sông tuy chảy hoài,
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi !

Giọng điệu tiếp theo lại chậm, đều, ý trầm lắng, suy tư. Bao nhiêu năm sau chiến thắng, các bô lão tự cắt nghĩa nguyên nhân thắng lợi của dân tộc mình. Ta thắng bởi ta có lịch sử lâu đời, trời đất lại cho nơi hiểm trở. Nhưng còn một điều quan trọng : không đời nào dân tộc ta lại thiếu những anh tài :

Quả là : Trời đất cho nơi hiểm trở,
Cũng nhờ : Nhân tài giữ cuộc điện an.
Bởi vậy mà :
Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng,
Bởi đại vương coi thế giặc nhàn.

Tác giả gợi hình ảnh oai hùng của tướng quân Trần Hưng Đạo với câu nói nổi tiếng còn lưu sử sách : "Năm nay, thế giặc nhàn". Câu nói thể hiện khí phách và bản lĩnh của vị tướng mà trong tay nắm chắc sự linh diệu của nghệ thuật cầm quân.

Vậy là, theo quan niệm của người xưa, chúng ta đã hội đủ ba nhân tố để mà chiến thắng : thiên thời (trời cũng chiều người), địa lợi (nơi hiểm trở), nhân hoà (nhân tài giữ cuộc điện an). Mảnh đất có đủ địa linh, nhân kiệt thì kẻ thù xâm lược phải chuốc lấy bại vong cũng là tất yếu.

Cuối bài phú là hai lời ca. Lời ca của các bô lão vừa là lời tổng kết, vừa đúc kết chân lí vĩnh cửu ngàn đời : chính nghĩa luôn luôn thắng gian tà. Những kẻ bất nghĩa sẽ bị tiêu vong, chỉ có anh hùng, ngàn thu vẫn lưu danh thiên cổ :

Những người bất nghĩa tiêu vong,
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh.

Tiếp nối là lời ca của khách, ngợi ca sự anh minh của hai vị thánh quân, đồng thời một lần nữa khẳng định vai trò của nhân tố con người :

Giặc tan muôn thuở thăng bình,
Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao.

Bài phú kết thúc trong niềm tự hào dân tộc, kết thúc bằng lời ngợi ca lí tưởng nhân nghĩa và tư tưởng nhân văn, những truyền thống đạo lí cao đẹp của dân tộc Việt Nam.

Thơ ca trung đại xuyên suốt hai dòng cảm hứng : yêu nước và nhân đạo. Bạch Đằng giang phú là tác phẩm tiêu biểu cho cảm hứng yêu nước của văn học giai đoạn Lí  Trần. Bài phú giản dị mà cuốn hút, sinh động. Tác giả đã kết hợp hài hoà nhiều giọng điệu : khi sảng khoái hào hùng, khi trầm lắng, suy tư hay khi tha thiết tự hào. Bạch Đằng giang phú thực sự xứng đáng là đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong lịch sử văn học Việt Nam.

* Liên hệ:

1. Xưa kia, các nhân sĩ ta có làm thơ phú để tả cảnh, cũng chính là để ngụ ý, ngụ tình. Quan niệm "thi dĩ ngôn chí" (thơ để nói cái chí của mình) là như vậy. Trương Hán Siêu viết bài phú này để tả cảnh sông Bạch Đằng với tất cả vẻ hùng tráng của nó, chính là khắc hoạ tinh thần ngoan cường, bất khuất của dân tộc ta đối với việc bảo vệ nền độc lập tự do của mình. Ý nghĩa toát lên từ bài phú là ý nghĩa về bài học truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta về việc bảo vệ Tổ quốc từ đời này sang đời khác...

Kết cấu một bài phú cũng chặt chẽ như kết cấu một bài thơ, vì phú cũng là một thể văn vần, bắt nguồn từ thơ cổ( ). Hình thức phú xuất hiện khá sớm từ thời Chiến quốc (ở Trung Hoa), mà các tác giả nổi tiếng bấy giờ như Tuân Khanh, Tống Ngọc. Đây là một thể văn xuôi, thường có vần có điệu, mà âm luật chưa chặt chẽ như ở phú đời Đường về sau( ). Thể phú đó gọi là phú Tống Ngọc chịu ảnh hưởng Sở từ nhiều, thường dùng từ "hề" làm từ đệm trong câu, mà ta dịch là "chừ". Bài phú của Trương Hán Siêu này theo thể phú có pha Sở từ này, tức phú cổ thời Tống Ngọc, cũng gọi là phú lưu thuỷ. Tuân Khanh và Tống Ngọc có thể là những nhân sĩ đầu tiên sử dụng hình thức phú dưới dạng đối thoại giữa hai, hoặc ba nhân vật. Thí dụ nhân vật A đi chơi gặp nhân vật B, hai bên đối thoại, rồi đi đến nhận định có yếu tố hợp đề, dù có khi khác nhau về khía cạnh, hoặc nhân vật A và nhân vật B đang đối thoại với nhau, nhân vật C xuất hiện bác ý kiến của A và B, để rồi cuối cùng đưa ra một nhận định hợp đề về đạo lí ở đời. Bài Bạch Đằng giang phú này theo hình thức đầu, tức hình thức A và B đối thoại, rồi nhất trí bổ sung ý kiến cho nhau bằng mấy lời ca kết thúc : nhân vật trong bài phú chỉ là nhân vật trữ tình, có tính chất hư cấu mà thôi, thật ra đó là "phản thân" của chính tác giả, là hình bóng của tác giả, thí dụ nhân vật Đăng Đồ tử trong bài Phú Đăng Đồ tử hiếu sắc của Tống Ngọc, chính là mặt trái của Tống Ngọc về tính hiếu sắc. Bài phú kể lại việc Đăng Đồ tử phê bình Tống Ngọc hiếu sắc trước mặt Sở vương, thế là Tống Ngọc hùng biện vừa bảo vệ cho mình, vừa phê phán chính Đăng Đồ tử mới là người hiếu sắc, hai người đang đối thoại, thì người thứ ba là một đại phu nước Tần xuất hiện cùng tranh luận, rồi hoà giải bằng cách cho rằng yêu đương mà đúng lễ nghĩa thì cũng chấp nhận được.

Trong bài phú của Trương Hán Siêu nói đây, các bô lão là nhân vật thứ hai dưới dạng tập thể, có ý nghĩa dân gian, và cũng có thể có thật, trong chừng mực tác giả gặp gỡ người địa phương ven sông Bạch Đằng trên đường vãn cảnh. Tuy nhiên, đứng về mặt triển khai chủ đề và kết cấu của bài phú, thì tâm tư của các nhân vật bô lão chính là tâm tư của tác giả, và nhân vật đó là nhân vật trữ tình của bài phú. Kết cấu bài phú này khá chặt chẽ, theo đúng quy trình một bài phú mẫu mực với các đoạn mạch của nó như : đề, thực, luận, kết, và có thể chia làm sáu phần tương ứng với công thức của phú như sau :

(1) Lung, tức phần phá đề (Khách có kẻ... Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết) : Thú tham quan phong cảnh đất nước với ý nghĩa tìm hiểu di tích lịch sử như kiểu Tư Mã Thiên đời Hán.

(2) Biện nguyên, tức phần thừa đề (Bèn giữa dòng... Đến sông Bạch Đằng, thuyền bơi một chiều) : Cuộc ngoạn cảnh trên sông Bạch Đằng.

(3) Thích thực, tức tả rõ cảnh đi chơi : Cảnh khúc sông Bạch Đằng mà xưa kia đã xảy ra những trận chiến đấu ác liệt giữa ta và địch, và ta thắng lợi huy hoàng, thì khi tác giả bơi thuyền đến, chỉ có trời nước mênh mông, ngàn lau san sát.

(4) Phu diễn, nghĩa là minh hoạ thêm phần trên, phu nghĩa là trình bày (Bên sông các bô lão... Tái tạo công lao, nghìn xưa ca ngợi) : Cuộc đối thoại giữa tác giả và các bô lão ven sông về cuộc thuỷ chiến thời Trần.

(5) Nghị luận, tức ý nghĩ của tác giả (Tuy nhiên : Từ có vũ trụ... Tiếng thơm còn mãi, bia miệng không mòn) : Nguyên nhân thắng lợi : so sánh địa thế với con người, thì con người là quyết định. Ở đây, tác giả muốn nhấn mạnh vai trò của Trần Hưng Đạo.

(6) Kết (Đến bên sông chừ hổ mặt... Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao) : Ý của phần kết nối tiếp ý phần nghị luận ở trên : đạo đức của người nắm nhiệm vụ lãnh đạo quốc gia là quan trọng : tác giả nhằm ca ngợi Thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông, hai vị thánh quân, và thông qua việc này, ý muốn nói : bài học về đoàn kết toàn dân để bảo vệ Tổ quốc là một bài học quý báu, vì muốn đoàn kết được toàn dân, thì người ở cương vị lãnh đạo quốc gia phải có đạo đức cao cả.


Kết cấu một bài phú phải chặt chẽ. Có những nhóm từ, liên từ hoặc trạng từ đặt đầu câu, hoặc đầu đoạn mạch có tính chất nhấn mạnh một ý, hoặc báo hiệu chuyển sang một ý khác, làm cho câu văn thêm đậm đà, ý nhị với tất cả đặc trưng tu từ của nó, thí dụ : mở đầu có những từ : Khách có kẻ (nguyên văn : Khách hữu), hay đoạn bô lão bắt đầu kể lại trận đánh, thì mở đầu bằng mấy từ : Đương khi ấy (nguyên văn : Đương kỳ), hoặc như đoạn tác giả nói về nguyên nhân thắng lợi của ta, với mấy từ mở đầu : Tuy nhiên (nguyên văn : Tuy nhiên) để so sánh "đất hiểm" với "nhân tài".
Nếu chúng ta so sánh lôgíc kết cấu một bài phú cổ như bài Bạch Đằng giang phú nói trên, với lôgíc bố cục thông thường một bài tả cảnh hiện nay với đề tài tương tự, thì hai phần lung và biện nguyên tương ứng với phần mở đầu, ba phần tiếp : thích thực, phu diễn, nghị luận tương ứng với phần chính của bài, và phần kết tương ứng với phần tổng luận của bài.


... Từ trận thắng đầu tiên nổi tiếng của Ngô Quyền năm 938 đến nay, dòng sông Bạch Đằng tuy đã đổi thay nhiều chỗ, nhưng hình ảnh những trận thuỷ chiến oanh liệt trên sông Bạch Đằng vẫn in sâu trong tâm trí của nhân dân ta từ đời này qua đời khác. Và nhớ đến sông Bạch Đằng là nhớ đến thơ văn ca ngợi sông Bạch Đằng, ca ngợi những trận thuỷ chiến, nhất là trận thuỷ chiến đời Trần.

Trong số thơ văn đó, bài phú của Trương Hán Siêu, bài phú thứ nhất về sông Bạch Đằng, nổi lên như một áng văn hay "không tiền khoáng hậu" ? Đây là một bài phú cổ thể, có pha đối thoại và liên ngâm, nên rất sinh động. Tất nhiên, với những hạn chế của nhân sinh quan cũ thời bấy giờ, Trương Hán Siêu mới giới thiệu sơ qua lời nói của các bô lão ven sông, và hình ảnh bô lão cũng còn mờ nhạt ; Trương Hán Siêu chưa thể có điều kiện để thấy hết vai trò quan trọng của quần chúng, cho nên khi nói đến nhân tố con người, tác giả chỉ nhấn mạnh các bậc anh hùng hào kiệt, mà chưa nhấn mạnh đến lực lượng quần chúng, hoặc mới chỉ nhấn mạnh vai trò chỉ đạo của vua mà chưa nhấn mạnh sức hậu thuẫn vĩ đại của quần chúng. Tuy nhiên, mặt hạn chế tất yếu đó của lịch sử vẫn không làm giảm giá trị to lớn của bài phú mẫu mực này, một bài phú đậm đà tính chất trữ tình, mà lại pha màu sắc anh hùng ca ; nó đã khắc hoạ một cảnh trí mỹ lệ của Tổ quốc với tất cả hình bóng chiến công oanh liệt của quân dân ta thời trước, đồng thời gợi lên cho chúng ta, những con em đất Việt ngày nay, trong thế hệ Hồ Chí Minh, một bài học sâu sắc về sự quyết tâm bảo vệ bằng bất cứ giá nào cho trọn vẹn "non sông gấm vóc" mà tổ tiên đã để lại cho mình.

(Bùi Văn Nguyên, Giảng văn, tập 1, Sđd)

Bài mẫu 2

Trương Hán Siêu là một danh sĩ đời Trần, sau lúc qua đời được vua Trần truy phong là Thiếu Bảo.Ông còn để lại bốn bài thơ và ba bài văn “Dục Thuý sơn khắc thạch”,”Linh TẾ Tháp ký”,”Khai Nghiêm tự bi”,”B1EA1ch Đằng giang phú”,…Trong thơ văn cỗ Việt Nam có một số tác phẫm lấy đề tài sông Bạch Đằngnhưng”Bạch Đằng giang phú”cũa Trương Hán Siêu được xếp vào hạng kiệt tác. Chưa rõ Trương Hán Siêu viết “Bạch Đằng giang phú”vào năm nào, nhưng qua giọng văn cảm hoài “Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá-Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”, ta có thể đoán định được, bài phú này chỉ có thể ra đời sau khi Trần Quốc Tuấn đã mất, tức là vào khoảng 1301-1354.
“Bạch Đằng giang phú” được viết bằng chữ Hán. Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên… đã dịch khá thành công áng văn này. Bài cảm nhận về “Bạch Đằng giang phú” dựa trên văn bản dịch của giáo sư Bùi Văn Nguyên.
Phú là một thể văn cổ dùng để tả cảnh vật, phong tục hoặc tính tình. Chất trữ tình và yếu tố khoa trương đậm đặc trong phú. Có phú cổ thể và phú Đường luật. Phú cổ thể như một bài văn xuôi dài, có vần mà không nhất thiết có đối, còn gọi là phú lưu thuỷ. Phú Đường luật được đặt ra từ đời Đường, có vần, có đối, có luật bằng trắc chặt chữ, có những kiểu câu được quy pạm rõ rang. “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu viết theo lối phú cổ thể, có vần sử dụng phép đối rất sáng tạo:
... “Tiếng thơm đồn mãi,
Bia miệng không mòn.
Đến chơi sông chừ ủ mặt
Nhớ người xưa chừ lệ chan…”
Qua bài phú này, Trương Hán Siêu ca ngợi sông Bạch Đằng hùng vĩ, dòng sông lịch sử đã gán liền với tên tuổi bao anh hùng, với bao chiến công oanh liệt của nhân dân ta trong sự nghiệp chống xâm lăng. Nhà thơ khẳng định: Núi sông hiểm trở, nhiều nhân tài hào kiệt đã tạo nên truyền thống anh
Hùng của dân tộc, sự bền vững của Tổ quốc muôn đời. Lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc là cảm hứng chủ đạo của “Bạch Đằng giang phú”.
“Giương buồm giong gió chơi vơi”.
“Khách có kẻ” trong “Bạch Đằng giang phú” là nhân vật trữ tình không ai khác mà chính là Trương Hán Siêu. Trong các bài phú cổ, nhân vật “khách” không mấy xa lạ. “Ngọc tỉnh liên phú” (bài phú Sen giếng ngọc) của Mạc Đĩnh Chi (?-1346) cũng có nhân vật “khách”: … “Khách có kẻ: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng nồng. Ao trong ngắm làn nước biếc, Nhạc phủ vịnh khúc Phù Dung”. “Khách” ở đây là Mạc Đĩnh Chi biểu lộ tấmlòng thanh cao, chí khí, tài năng và hoài bão của kẻ sĩ ở đời.
Ta đã từng biết, Trương Hán Siêu là danh sĩ nổi tiếng đời Trần, tính tình cương trực, tâm hồn phóng khoáng. Chín câu đầu cho thấy “khách” là một tao nhân với rượu túi thơ “chơi vơi” theo cánh buồm, làm bạn với gió trăng qua mọi miền sông biển. Sống hết mình với thiên nhiên, du ngạon thăm thú mọi cảnh đẹp xa gần. Đêm thì “chơi trăng mải miết”, ngày thì: “Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương; Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”,...
Khách đã đi nhiều và biết nhiều. Các danh lam thắng cảnh như Nguyên Tương, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,… đều ở trên đất nước Trung Hoa mênh mông, ở đây chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nói lên một cá tính, một tâm hồn: yêu thiên nhiên tha thiết, lấy việc du ngoạn làm niềm lạc thú ở đời, tự hào về thói “giang hồ” của mình:
“Nơi có người đi
Đâu mà chẳng biết”.
Các địa danh xa lạ không chỉ là cảnh đẹp mà còn gợi ra một không gian bao la, chỉ có những người mang hoài bão và “tráng chí bốn phương” mới có thể “giương buồm…lướt bể” đi tới. Đầm Vân Mộng là một thắng cảnh tiêu biểu cho mọi thắng cảnh. Thế mà “Khách” đã “chứa vài trăm trong dạ”, đã thăm thú nhiều lần đã từng thưởng ngoạn bao cảnh đẹp tương tự. Vẫn chưa thoả lòng, vẫn còn “tha thiết” với bốn phương trời.
“Đầm Văn Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều
Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết”.
Phần đầu bài phú nói lên cốt cách kẻ sĩ: chan hoà với thiên nhiên, lấy chữ “nhàn” làm trọng, gián tiếp phủ định lợi danh tầm thường.
“Qua cửa Đại Than… đến sông Bạch Đằng”
Đoạn văn tiếp theo nói lên niềm vui thú của nhà thơ khi đến chơi sông Bạch Đằng. Trương Hán Siêu đã theo cái chí của người xưa “học Tử Trương” đi về phía Đông Bắc “buông chèo” cho thỏa chí “tiêu diêu”. Người xưa nói: “Muốn học cái văn của Tư Mã Tử Trường thì trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường”. Tử Trường là Tư Mã Thiên, tác giả bộ “Sử ký” bất hủ, là nhà văn, nhà sử học tài ba đời Hán. Con người ấy vẫn được xem là nhà du lịch có một không hai thời xưa. Trương Hán Siêu với cánh buồm thơ lần theo sông núi:
“Qua cửa Đại than, ngược bến Đông triều,
Đến sông Bạch Đằng, bồng bềnh mái chèo”
“Bát ngát sóng kình muôn dặm”
Bạch Đẳng giang, con sông oai hùng của Tổ Quốc Đại Việt. Sông rộng và dài, cuồn cuộn nhấp nhô sóng biếc.Cuối thu ( ba thu ) nước trời một mầu xanh bao la “Bát ngát sóng kình muôn dặm - Thướt tha đuôi trĩ một màu- Nước trời: một sắc- Phong cảnh ba thu”. Câu văn tả rhực mượn một hình ảnh của Vương Bột trong bài “ Đằng Vương các” “ Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc” ( Sông thu cùng với trời xa một màu ). Tả con sóng Bạch Đằng, vua Trần Minh Tông (1288-1356) viết : “Thuồng luồng nuốt thuỷ triều, cuộn làn sóng bạc… Trông thấy nước dòng sông rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối- Lầm tưởng rằg máu người chết vẫn chưa khô”( Bạch Đằng giang -Dịch nghĩa ) Cảnh núi non, bờ bãi được miêu tả, đã tái hiện cảnh chiến trường rùng rợn một thời:
“ Bờ lau san sát.
Bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy
Gò đầy xương khô"
Bpờ lau, bến lách gợi tả không khí hoang vu. hiu hắt. Núi gò, bờ bãi trập trùng như gươm giáo, xương cốt lũ giặc phương Bắc chất đống. Nét vẽ hoành tráng ấy, một thế kỷ sau Ức Trai cũng viết: “Ngạc chặt kình băm non lởm chởm - Giáo chìm gươm gãy bãi dăng dăng” ( “Cửa Biển Bạch Đằng”).
Trương Hán Siêu miêu tả dòn sông Bạch Đằng bằng những đường nét, máu sắc gợi cảm.Nhũng ẩn dụ và liên tưởng mói về dòng sông lịch sử hùng vĩ được miêu tả qua những cặp câu song quan và tứ tự tuyệt đẹp. Mấy chục năm sau trận đại thắng trên sông Bạch Đằng(1288) nhà thơ đến thăm dòng sông cảm thương xúc động:
“ Buồn vì cảnh thảm
Đứng lặng giờ lâu
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”.
Một tâm trạng: “ buồn, thương tiếc”, một cảm xúc “ đứng lặng giờ lâu” của “khách” đều biểu lộ sự xúc động, lòng tiếc thương và biết ơn sâu sắc, vô hạn đối với anh hùng liệt sĩ đã đem xương máu bảo vệ dòng sông vá sự tồn vong của dân tộc. Đó là tình nghĩa thuỷ chung “uống nước nhớ nguồn”
“Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”
Các bô lão - nhân vật thứ hai xuất hiện trong bài phú. Từ miêu tả và trữ tình, nhà thơ chuyển sang tự sự, ngôn ngữ sống đọng biến hoá hẳn lên, Cảm hứng lịch sử mang âm điệu anh hùng ca dâng lên dào dạt như những lớp sóng trên sông Bạch Đằng vỗ. Khách và bô lão ngắm dòng sông, nhìn con sóng nhấp nhô như sống lại những năm tháng hào hùng oanh liệt của tổ tiên:
“ Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô mã,
Cũng là bãi đát xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao”.
Sau và trước, gần và xa, ta và giặc, người chiến thắng và kẻ thảm bại được đặt trong thế tương phản đối lập đã khắc sâu và tô đậm niềm tự hào sông núi. “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” vì nó là mồ chôn lũ xâm lược phương Bắc.
Năm 938, Ngô Quyền dùng mưu đại phá quân Nam Hán:
“Bạch Đằng một trận giao phong
Hoằng Thao lạc vía, Kiều công nộp đầu”
Năm 1288, Trần Quốc Tuấn mở một trận quyết chiến - chiến lược bắt sống Ô Mã Nhi và tiêu diệt hàng vạn quân xâm lược Nguyên - Mông:
“ Bạch Đằng một cõi chiến tràng,
Xương bay trắng đất, máu màng đỏ sông”.
Trở lại bài phú: “Đưong khi ấy…” đó là ngày 9 tháng 4 năm 1288, trận thuỷ chiến đã diễn ra ác liệt trên sông Bạch Đằng. Dòng sông nổi sóng với “ muôn đội thuyền bè”. Cảnh tượng chiến trường vô cùng tráng liệt: “ Tinh thần phấp phới - Tỳ hổ ba quân - Giáo gươm sáng chói”. Các dũng sĩ nhà Trần với quyết tâm “ Sát Thát, với dũng khí mạnh như hổ báo xung trận. Chiến sự dữ dội ác liệt, giằng co: “ Trận đánh thư hùng chửa phân - Chiến luỹ Bắc Nam chống đối”. Khói lửa mù trời. Tiếng gươm giáo, tiếng quân reo , tiếng sóng vỗ. Ngựa hý, voi gầm. Thuyền giặc bị đốt cháy, bị va vào cọc gỗ bịt sắt nhọn vỡ đắm tan tành. Máu giặc nhuộm đỏ dòng sông. Trận đánh kinh thiên động địa được tái hiện bằng những nét vẽ, những chi tiết phóng bút, khoa trương rất thần tình. Âm thanh và màu sắc, trực cảm và tưởng tượng được tác giả phối hợp vận dụng, góp phần tô đậm trang sử vàng chói lọi:
“Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ
Bầu trời đất chừ sắp đổi”.
“Đại Việt sử ký” ghi rõ: Các tướng như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ… đều bị bắt sống, hàng vạn giặc bị tiêu diệt. Quân ta thu hơn 400 chiến thuyền. Giặc đã lần lượt nếm mùi thất bại, nhục nhã. Dòng sông Bạch Đằng như một chứng nhận lịch sử:
“Đến nay sông nước tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”.
Trận thủy chiến sông Bạch Đằng của tổ tiên mang tầm vóc và quy mô hoành tráng, kỳ vĩ. Cũng như trận Xích Bích, trận Hợp Phì “quân Tào Tháo tan tác tro bay”… “quân Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi”, trận Bạch Đằng giang đã đập tan âm mưu bành trướng xâm lược của Lưu cung, của Tất Liệt: “Trời cũng chiều người - Hung đồ hết lối”. Hung đồ là một cách nói khinh bỉ đối với lũ giặc phương Bắc.
Đất hiểm và nhân tài
Nhà thơ từ miêu tả, tự sự đến suy ngẫm về vinh, nhục, về thắng, bại trong lịch sử. Tổ quốc mãi mãi vững bền và nhờ có hai nhân tố quan trọng: đất hiểm và nhân tài. Tính tư tưởng của áng văn này rất sâu sắc. Tác giả đã neu lên bài học lịch sử vô giá:
“Quả là trời đất cho nơi hiểm trở
Cũng nhờ: Nhân tài giữ cuộc điện an”.
Bạch Đằng, Chi Lăng… là đất hiểm trở. Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Quang Trung… là nhân tài. “Cuộc điện an” là sự nghiệp bảo vệ nền độc lập, hoà bình, yên vui cho đất nước.
Bằng lối so sánh, Trương Hán Siêu nhắc lại vai trò to lớn của Lã Vọng, Hàn Tín bên Trung Quốc đã để lại võ công lừng lẫy một thời, qua đó tác giả tự hào ngợi ca Hưng Đạo Vương, người anh hùng vĩ đại thuở “bình Nguyên” oanh liệt”
“Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng
Bởi Đại Vương coi thế giặc nhàn”.
“Thế giặc nhàn” là thế giặc dễ đánh thắng. Quả đúng như vậy lần thứ 3 giặc Nguyên - Mông sang xâm lược nước ta đã bị đại bại. Con người anh hùng “coi thế giặc nhàn”, tên tuổi sống mãi với Bạch Đằng giang, với đất nước Đại Việt: “Tiếng thơm đồn mãi - Bia miệng không mòn”.
Đoạn văn miêu tả dòng sông, đoạn kể lại trận thủy chiến là đặc sắc nhất. Màu sắc tráng lệ. Hình ảnh kỳ vĩ. Phép đối được vận dụng rất tài tình để biểu lộ niềm tự hào dân tộc và sức mạnh nhân nghĩa Việt Nam. Trương Hán Siêu đã bày tỏ một quan niệm về đất hiểm và nhân tài về vinh và nhục, cái tiêu vong và cái vĩnh hằng… trong cuộc đời và trong lịch sử. Tư tưởng cao đẹp ấy được diễn tả một cách tráng lệ, nên thơ, tạo nên vẻ đẹp văn chương của “Bạch Đằng giang phú”.
“Cốt minh đức cao”
Phần cuối bài phú là bài ca của lão về dòng sông, về đất nước và con người Việt Nam. Sông Bạch Đằng hùng vĩ “một dải dài ghê” là mồ chôn lũ xâm lăng. “Sóng hồng cuồn cuộn trôi về biển Đông”. Máu giặc như mãi mãi nhuộm đỏ dòng sông. Một cách nói hào hùng. Giặc bất nghĩa nhất định bị tiêu vong. Các anh hùng để lại tiếng thơm muôn đời, lưu danh sử sách. Nhà thơ dành cho hai vua Trần những lời đẹp đẽ nhất”
“Anh minh hai vị thánh quân
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh”
“Thánh quân” là Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông, đã lãnh đạo cuộc kháng chiến lần thứ 2 và lần thứ 3 đánh thắng giặc Nguyên - Mông. Nhờ những nhân tài mà đất nước được “điện an”; nhờ những ông vua tài giỏi, sáng suốt, anh minh mà Đại Việt được “thanh bình muôn thuở”. Một lần nữa tác giả lại khẳng định bài học lịch sử giữ nước: “bởi đâu đất hiểm, côt mình đức cao”. Đức cao là lòng yêu nước thương dân, là tinh thần đại đoàn kết dân tộc, là tinh thần cảnh giác trước hiểm hoạ ngoại xâm. Một nét đặc sắc trong thơ văn đời Trần là ngoài “hào khí Đông A” còn nêu cao bài học xây dựng bảo vệ đất nước: “Thái bình nên gắng sức - Non nước ấy ngàn thu” (Trần Quang Khải). “Đức cao” là nguyên nhân thắng lợi, như Trần Quốc Tuấn đã nói: “Vua tôi đồng long, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” - đó là nguồn sức mạnh Việt Nam.
Tóm lại, “Bạch Đằng giang phú” là một bài ca yêu nước tự hào dân tộc. Tên tuổi Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn trường tồn với dòng sông lịch sử. Lời văn hoa lệ, tư tưởng tình cảm sâu sắc, tiến bộ. Chất trữ tình sau lắng. Âm điệu anh hùng ca, không khí trang trọng cổ kính. Tài hoa trong miêu tả, hùng hồn trong tự sự, u hoài trong cảm xúc, sáng suốt lúc bình luận… là những thành công của Trương Hán Siêu. Đẹp vậy thay tiếng hát dòng sông:
“Sông Đằng một dải dài ghê,
Sóng hồng cuồn cuộn trôi về biển Đông”….

Trả Lời Với Trích Dẫn
TaiLieuTongHop.Com là một cộng đồng mở chia sẻ tài liệu miễn phí hoạt động phi thương mại. Chúng tôi không chịu trách nhiệm với nội dung bài viết của thành viên. van mau - dankinhte - soan bai, top keywords, bua
Xin thông báo, bây giờ là 04:39 PM
|