Thư Viện Tài Liệu Tổng Hợp

TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu tổng hợp hoàn toàn miễn phí dành cho mọi người

Hãy sử dụng chức năng tìm kiếm bên dưới để tìm tài liệu trước khi post yêu cầu liên diễn đàn!

Loading

VanMau.VN - Thư viện văn mẫu Việt Nam
+ Viết bài mới  + Trả lời bài viết
 
LinkBack Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 04-12-2012, 02:22 PM
die die is offline
Senior Member
 
Tham gia: Apr 2012
Tổng số bài gởi: 8,890
Send a message via Yahoo to die



Bài 3. Các tội xâm phạm sở hữu

Chương 3. CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU3.1. KHÁI NIỆM CHUNG

Văn bản áp dụng pháp luật: Thông tư 02/01/TTLN ngày 25/12/2001 của liên ngành TANDTC - VKSNDTC - BTP - BCA hướng dẫn áp dụng các tội xâm phạm sở hữu

3.1.1. Khái niệm

Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi xâm phạm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt về tài sản của người khác.

1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý

a. Khách thể của các tội xâm phạm sở hữu là quan hệ sở hữu về tài sản.

b. Mặt khách quan của tội phạm

Về hành vi khách quan hầu hết các tội xâm phạm sở hữu được thực hiện bằng hành động (trừ Điều 143 có thể thực hiện bằng không hành động).

Về hậu quả đa số các tội xâm phạm sở hữu có CTTP vật chất, chỉ có một số tội có CTTP hình thức như Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Tội cướp tài sản, Tội cưỡng đoạt tài sản.

c. Chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai có NLTNHS

d. Mặt chủ quan của tội phạm: Đa số các tội thực hiện bởi hình thức lỗi cố ý, có một số tội có hình thức lỗi vô ý.

Căn cứ vào tính chất của hành vi khách quan xâm hại đến các quyền năng trong quyền sở hữu đối với tài sản, các tội xâm phạm sở hữu được chia làm 2 nhóm:

+ Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt được quy định từ Điều 133 đến Điều 140.

+ Các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt được quy định từ Điều 141 đến Điều 145.

Chiếm đoạt tài sản là cố ý chuyển biến một cách bất hợp pháp tài sản của người khác thành tài sản của mình.

Tuỳ theo từng loại tội phạm mà dấu hiệu chiếm đoạt tài sản có thể được phản ánh là dấu hiệu mục đích chiếm đoạt như Tội cướp tài sản, hay dấu hiệu hành vi chiếm đoạt như Tội cướp giật tài sản, hoặc là dấu hiệu hậu quả chiếm đoạt như tội trộm cắp tài sản.

3.2. CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT

3.2.1. Tội cướp tài sản (Điều 133)

a. Khái niệm

Tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

b. Các dấu hiệu pháp lý

Khách thể của tội phạm: Tội cướp tài sản trực tiếp xâm hại đến 2 quan hệ xã hội sau:

@ Quan hệ nhân thân, đó là quan hệ về tính mạng, sức khoẻ con người.

@ Quan hệ tài sản.

Mặt khách quan của tội phạm chỉ đặc trưng bởi dấu hiệu hành vi khách quan. Hành vi khách quan của tội cướp tài sản được thực hiện bằng 1 trong 3 hành vi sau:

@ Hành vi dùng vũ lực: Dùng sức mạnh về vật chất, thể chất tác động lên người khác như xô ngã, chặn xe, đánh, chém...

@ Hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc: Có lời nói, cử chỉ khống chế tác động lên tư tưởng của người khác để người này tin rằng nếu không đưa tài sản cho can phạm thì việc dùng vũ lực sẽ xảy ra ngay không tránh khỏi. Cụm từ “ngay tức khắc” chỉ:

Ø Sự mãnh liệt của hành vi đe doạ.

Ø Khoảng cách thời gian không có sự gián đoạn giữa hành vi đe doạ và hành vi dùng vũ lực.

Ví dụ: Đ giơ súng doạ bắn, rút dao doạ chém, doạ đâm. Để đánh giá hành vi đe doạ dùng vũ lực có phải “ngay tức khắc” hay không phải căn cứ vào:

- Thái độ, cử chỉ, tính chất hành vi đe doạ.

- Công cụ, phương tiện người phạm tội sử dụng.

- Không gian, thời gian, hoàn cảnh, địa điểm sự việc xảy ra.

* Hành vi khác: Cho nạn nhân uống thuốc ngủ, dùng ê te, các loại thuốc hướng thần khác.

Tội cướp hoàn thành khi can phạm thực hiện một trong ba hành vi nên trên. Đặc điểm của các hành vi này phải làm tê liệt ý chí (làm nạn nhân không nhận thức, không biết sự việc đang xảy ra) hoặc làm tê liệt khả năng chống cự (biết sự việc xảy ra nhưng không có khả năng phản kháng) của nạn nhân. Việc lấy tài sản hay không là do người phạm tội quyết định.

Chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt chủ quan của tội phạm được đặc trưng bởi 2 dấu hiệu:

+ Lỗi cố ý trực tiếp

+ Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc. Mục đích chiếm đoạt tài sản luôn phải xuất hiện trước hoặc muộn nhất là đồng thời với thời điểm thực hiện hành vi khách quan.

c. Hình phạt

Hình phạt của tội cướp quy định 4 khung:

Khoản 1: Phạt tù từ 3 năm đến 10 năm trong trường hợp thông thường (trường hợp không có tình tiết định khung tăng nặng).

Khoản 2: Phạt tù từ 7 năm đến 15 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

1. Có tổ chức: Băng cướp có nhiều người tham gia, có sự câu kết chặt chẽ giữa những người phạm tội.

2. Có tính chất chuyên nghiệp: Là trường hợp can phạm lấy việc cướp là nghề sống chính, tài sản cướp được là nguồn thu nhập chính.

3. Tái phạm nguy hiểm: Là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc đã tái phạm chưa được xoá án tích lại phạm tội cướp tài sản.

4. Sử dụng vũ khí, phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm khác là cách thức thực hiện tội phạm nguy cơ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ của người khác. Ví dụ nhét giẻ vào miệng thời gian dài, dùng gậy ngáng xe khi đang chạy với tốc độ lớn.

Ngoài 4 tình tiết định khung này tội cướp tài sản còn quy định 3 loại tình tiết định khung khác trong 3 khoản chúng đều phản ánh là hậu quả của tội cướp, giữa chúng chỉ khác nhau về mức độ, nên các loại tình tiết định khung này có thể thể hiện trong mối tương quan như sau:

1. Gây thương tích làm chết người.
- Đặc điểm của tình tiết này là lỗi vô ý và là hậu quả trực tiếp.

Khoản 2 Khoản 3 Khoản 4
Tỷ lệ thương tật từ 11 - 30% Tỷ lệ thương tật từ 31 - 60% Tỷ lệ thương tật trên 60% hoặc làm chết người
2. Chiếm đoạt tài sản. Lỗi cố ý - hậu quả trực tiếp Tài sản bị chiếm đoạt từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng Tài sản bị chiếm đoạt từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng. Tài sản bị chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên.
3. Gây hậu quả khác. Lỗi vô ý - hậu quả gián tiếp.
- Chết người

- Gây thương tích tỷ lệ thương tật mỗi người từ trên 61%

- Thiệt hại về tài sản:

Gây hậu quả nghiệm trọng
- 1 người

- 1 hoặc 2 người

- Từ 50 - 500 triệu đồng.

Gây hậu quả rất nghiêm trọng
- 2 người

- 3 hoặc 4 người

- Từ 500 - 1.500 triệu đồng.

Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
- Từ 3 người trở lên

- Từ 5 người trở lên

- Từ 1.500 triệu đồng trở lên.

3.2.2. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134)

a. Khái niệm

Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản.

b. Các dấu hiệu pháp lý

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan và các tình tiết định khung giống tội cướp tài sản Điều 133.

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi dấu hiệu hành vi khách quan. Hành vi khách quan của Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng hai loại hành vi.

* Hành vi bắt cóc người khác làm con tin. Bắt cóc là hành vi bắt giữ người trái phép, có thể thực hiện bằng các thủ đoạn như dùng vũ lực, dụ dỗ, lừa dối, bắt trộm. Con tin có thể là bất kỳ người nào có ảnh hưởng về mặt tình cảm với người quản lý tài sản.

* Hành vi đòi tiền chuộc (hành vi tống tiền). Hành vi đe doạ người quản lý tài sản nếu không giao nộp tiền cho can phạm thì tính mạng, sức khoẻ của con tin bị đe doạ. Hành vi này có thể được thể hiện qua thư nặc danh, điện thoại hoặc gặp trực tiếp.

Tội phạm hoàn thành khi can phạm có hành vi tống tiền.

3.2.3. Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135)

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm, các tình tiết định khung giống Điều 133 tội cướp tài sản.

Mặt khách quan của tội phạm chỉ đặc trưng bởi dấu hiệu hành vi khách quan. Hành vi khách quan của Điều 135 được thực hiện bằng một trong hai loại hành vi:

* Hành vi đe doạ dùng vũ lực. Can phạm có lời nói khống chế về tinh thần người quản lý tài sản nếu không đưa tài sản cho can phạm thì can phạm sẽ dùng vũ lực gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ của nạn nhân. Hành vi đe doạ dùng vũ lực ít mãnh liệt, khoảng cách giữa hành vi đe doạ với hành vi dùng vũ lực có sự gián đoạn về mặt thời gian.

Ví dụ: A giơ kim tiêm về phía B nói có SiDa nếu không đưa cho A 500.000 đồng, A chích kim tiêm vào người B.

* Hành vi khác uy hiếp về mặt tinh thần người quản lý tài sản. Doạ tố cáo về hành vi phạm pháp hoặc tố cáo về vấn đề đời tư.

Đặc điểm của hành vi trên chỉ khống chế một phần về tư tưởng của nạn nhân. Việc giao tài sản cho can phạm hay không là do nạn nhân quyết định trong sự miễn cưỡng.

Ví dụ: A buôn hàng cấm, B khống chế A đưa cho B 1.000.000 đồng nếu không sẽ báo Công an bắt giữ A.

Tội phạm hoàn thành khi can phạm thực hiện một trong hai hành vi trên.

3.2.4. Tội cướp giật tài sản (Điều 136)

Khách thể của tội phạm là sự xâm phạm quan hệ sở hữu.

Chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai có NLTNHS.

Mặt chủ quan của tội phạm là lỗi cố ý trực tiếp.

Mặt khách quan của tội phạm chỉ có dấu hiệu hành vi khách quan là hành vi chiếm đoạt tài sản.

Đặc điểm của hành vi chiếm đoạt tài sản của tội cướp giật tài sản là mang tính công khai và nhanh chóng

Tính chất nhanh chóng của hành vi chiếm đoạt của tội cướp giật thể hiện ở cả ba giai đoạn trong quá trình chiếm đoạt tài sản, đó là:

@ Nhanh chóng tiếp cận tài sản.

@ Nhanh chóng chiếm đoạt tài sản.

@ Nhanh chóng tẩu thoát tài sản.

Ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản ra can phạm không có bất kỳ thủ đoạn nào để tiếp cận với tài sản.

Để thoả mãn đặc điểm này tài sản chiếm đoạt phải là vật gọn, nhỏ dễ lấy, dễ mang đi như dây chuyền, bông tai, túi xách. Thời điểm chuyển giao tài sản là do người phạm tội giật lấy.

3.2.5. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137)

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm giống Điều 136.

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi 2 dấu hiệu:

+ Hành vi khách quan là hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi này có đặc điểm là mang tính công khai và ngang nhiên.

Tính chất ngang nhiên của hành vi chiếm đoạt tài sản của tội phạm thể hiện ở các điều kiện sau:

* Từ thời điểm hình thành ý định phạm tội cho đến khi lấy được tài sản can phạm không có bất kỳ một thủ đoạn nào, không có ý thức đối phó, đương đầu với người quản lý tài sản, không có ý thức chạy trốn hay nhanh chóng tẩu thoát.

* Tội phạm xảy ra trong hoàn cảnh người quản lý tài sản biết người phạm tội đang chiếm đoạt tài sản của mình nhưng không có điều kiện và khả năng ngăn cản việc thực hiện hành vi chiếm đoạt.

Ví dụ: B biết được A đang đứng tầng 5 nhìn xuống đất coi chiếc xe máy của mình để dưới sân, B mở khoá lấy đi.

+ Đối tượng tác động của tội phạm: Tài sản chiếm đoạt phải trị giá từ 500.000 đồng trở lên, nếu dưới 500.000 đồng thì phải thoả mãn 1 trong 3 điều kiện.

1. Gây hậu quả nghiêm trọng.

2. Đã bị xử lý hành chính về một trong những hành vi chiếm đoạt.

3. Đã bị kết án về một trong các tội chiếm đoạt nhưng chưa được xoá án tích.

(Các điều kiện này sẽ được giải thích trong Tội trộm cắp tài sản).

3.2.6. Tội trộm cắp tài sản (Điều 138)

a. Các dấu hiệu pháp lý

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm giống Điều 137.

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan được thực hiện bởi hai hành vi:

* Hành vi lén lút: Là hành vi che giấu việc thực hiện hành vi phạm tội đối với người quản lý tài sản. Ví dụ: Lợi dụng hoặc tạo ra sự sơ hở của người quản lý tài sản, dùng chìa khoá mở cửa, cạy cửa...

* Hành vi chiếm đoạt tài sản: Đặc điểm của hành vi chiếm đoạt của tội trộm cắp tài sản là tại thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt ý thức chủ quan của người phạm tội cho rằng người quản lý tài sản không biết được hành vi chiếm đoạt tài sản của mình.

+ Đối tượng tác động của tội phạm là tài sản bị chiếm đoạt phải thoả mãn hai điều kiện:

Ø Là tài sản đang do người khác quản lý, bao gồm các nhóm sau:

· Những tài sản đang thuộc sự chiếm hữu về mặt thực tế của người quản lý tài sản. Ví dụ, ví tiền có 30 triệu đồng bỏ trong túi quần.

· Những tài sản tuy thoát ly khỏi sự chiếm hữu về mặt thực tế của người quản lý tài sản nhưng nằm trong khu vực quản lý. Ví dụ, tài sản bỏ trong phòng ở của khách sạn.

· Những tài sản không nằm trong khu vực quản lý nhưng hình thành khu vực quản lý riêng. Ví dụ, nguyên vật liệu tập kích tại một địa điểm nơi công cộng.

Ø Tài sản chiếm đoạt phải trị giá từ 500.000 đồng trở lên. Nếu dưới 500.000 đồng phải thoả mãn một trong ba điều kiện sau:

· Gây hậu quả nghiêm trọng: Là hậu quả gián tiếp của hành vi trộm cắp và hậu quả này thực hiện với hình thức lỗi vô ý, có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự trị an xã hội (như đã phân tích ở tội cướp tài sản).

· Đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi chiếm đoạt tài sản.

Can phạm đã thực hiện một trong các hành vi cướp, cướp giật, trộm cắp, lừa đảo đã bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà trong thời hạn một năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính hoặc quyết định xử lý kỷ luật lại tiếp tục trộm cắp tài sản trị giá dưới 500.000 đồng.

· Đã bị kết án về một trong những tội chiếm đoạt chưa được xoá án tích.

· Vi phạm từ hai lần trở lên có tính liên tục, mỗi lần giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 500.000 đồng (trường hợp này mới được hướng dẫn trong Thông tư số 02/2001).

+ Hậu quả của tội phạm: Thời điểm phạm tội hoàn thành khi can phạm chiếm đoạt được tài sản, hay nói cách khác trong CTTP của tội trộm cắp phải có dấu hiệu hậu quả. Thời điểm tội phạm được coi là chiếm đoạt được tài sản tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng loại tài sản, thể hiện cụ thể như sau:

@ Can phạm đã cất giữ tài sản trong người nếu tài sản chiếm đoạt là vật gọn, nhỏ.

@ Can phạm đã mang ra khỏi khu vực quản lý nếu là tài sản cồng kềnh.

@ Can phạm đã xê dịch tài sản khỏi vị trí ban đầu nếu là tài sản hình thành khu vực quản lý riêng.

b. Các tình tiết định khung

Tình tiết định khung của tội trộm cắp tài sản giống các tình tiết định khung của tội cướp tài sản và có thêm tình tiết hành hung để tẩu thoát.

Về tình tiết định khung tăng nặng - Hành hung để tẩu thoát là tình tiết định khung tăng nặng của tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, và tội trộm cắp tài sản. Tình tiết này phải thoả mãn các điều kiện:

Về nội dung của tình tiết hành hung để tẩu thoát: Can phạm thực hiện một trong ba hành vi trên nhưng trong quá trình thực hiện bị phát hiện can phạm đã có hành vi dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng ngay tức khắc vũ lực nhằm tẩu thoát về người hoặc tài sản.

Về thời điểm hành hung: Nếu can phạm đã lấy được tài sản bị người khác phát hiện mà tài sản đang nằm trong tay người phạm tội, người phạm tội có hành vi hành hung để giữ bằng được tài sản đã lấy.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện 1 trong 3 loại tội này mà can phạm có hành vi hành hung sẽ chuyển hoá thành tội cướp tài sản nếu thuộc hai trường hợp sau:

@ Nếu can phạm thực hiện hành vi trộm cắp, công nhiên chiếm đoạt tài sản, cướp giật tài sản chưa lấy được tài sản, bị phát hiện mà có hành vi hành hung để lấy tài sản.

@ Đã lấy tài sản nhưng đã bị người khác lấy lại hoặc tài sản đang giành giật trên tay người phạm tội mà can phạm có hành vi hành hung để lấy tài sản chỉ xử lý về Tội cướp tài sản.

3.2.7. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139)

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm, giá trị tài sản chiếm đoạt: giống tội trộm cắp tài sản.

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan thể hiện ở 2 hành vi:

Ø Hành vi gian dối. Là hành vi đưa ra những thông tin không đúng sự thật để người khác tin đó là sự thật. Ví dụ A nói với bố mẹ B là B bị tai nạn đang cấp cứu ở bệnh viện, yêu cầu bố mẹ B đưa cho A 5.000 000 đồng để chi phí chi việc điều trị cho B sau đó đã chiếm đoạt số tiền này.

Ø Hành vi chiếm đoạt tài sản. Hình thức chiếm đoạt tài sản được thể hiện ở hai dạng:

+ Giao nhầm: Nếu tài sản chiếm đoạt nằm trong tay người quản lý tài sản.

+ Nhận nhầm: Nếu tài sản chiếm đoạt nằm trong tay người phạm tội.

Đặc điểm việc chuyển giao tài sản: Người quản lý tài sản do bị lừa dối nên đã tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội.

+ Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu được phản ánh trong CTTP. Tội phạm hoàn thành khi can phạm chiếm đoạt được tài sản.

3.2.8. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140)

Khách thể, mặt chủ quan, chủ thể của tội phạm giống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan được thực hiện bằng một trong 3 loại hành vi sau:

Ø Sau khi nhận được tài sản trên cơ sở của hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó. Ví dụ: A vận chuyển cho B một lô hàng điện tử, A tạo hiện trường giả tàu bị đắm để lấy lô hàng.

Ø Sau khi nhận được tài sản trên cơ sở của hợp đồng rồi bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó. Ví dụ: A tham gia dây hụi sau khi bốc hụi xong bỏ trốn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các con hụi khác.

Ø Sau khi nhận được tài sản trên cơ sở hợp đồng đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Ví dụ: A mượn tiền của B đánh bạc, mua bán ma tuý bị bắt và tịch thu tài sản, tang vật.

+ Đối tượng tác động của tội phạm: Về giá trị tài sản chiếm đoạt phải từ 1 triệu đồng trở lên, nếu dưới 1 triệu đồng phải thoả mãn một trong ba điều kiện.

1. Gây hậu quả nghiêm trọng.

2. Đã bị xử lý hành chính về một trong những hành vi chiếm đoạt.

3. Đã bị kết án về một trong các tội chiếm đoạt nhưng chưa được xoá án tích.

(Các điều kiện này đã được giải thích trong Tội trộm cắp tài sản)

* Sự khác nhau giữa tội lừa đảo với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. thể hiện ở các tiêu chí sau:

1. Chủ thể Điều 139 Điều 140
Bất kỳ ai Bất kỳ ai được chủ tài sản tín nhiệm giao tài sản
2. Mặt khách quan - Tài sản chiếm đoạt từ trên 500.000 đồng - Tài sản chiếm đoạt từ trên 1 triệu đồng
- Giá trị tài sản bị chiếm đoạt.
- Hành vi khách quan - Luôn phải có hành vi gian dối, hành vi gian dối, hành vi phải thực hiện trước thời điểm chuyển giao tài sản - Có thể có hành vi gian dối, có thể không, nếu có hành vi gian dối luôn phải thực hiện sau thời điểm chuyển giao tài sản.
- Đặc điểm tài sản - Tại thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu bất hợp pháp của người phạm tội - Tại thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người phạm tội.
3.3. CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT

3.3.1. Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141)

Khách thể của tội phạm xâm phạm quan hệ sở hữu.

Chủ thể của tội phạm bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt chủ quan của tội phạm lỗi cố ý trực tiếp

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan cố tình không nộp trả lại tài sản cho người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm sau khi đã có yêu cầu được nhận lại tài sản theo quy định của pháp luật như bán, tiêu dùng, tẩu tán, từ chối việc giao nội.

+ Đối tượng tác động của tội phạm thể hiện ở 2 điều kiện sau:

@ Nguồn gốc tài sản. Do tìm được, bắt được ngẫu nhiên, được giao nhầm Tức là tại thời điểm có tài sản can phạm không có lỗi đối với tài sản có được.

Ví dụ: Tài sản đào bới được trong lòng đất, tài sản nhặt được của người khác đánh rơi.

@ Loại tài sản.

Cổ vật, vật có giá trị lịch sử văn hoá.

Tài sản khác có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên.

3.3.2. Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142)

Khách thể, chủ thể của tội phạm giống Điều 141

Mặt chủ quan của tội phạm được đặc trưng bởi 2 dấu hiệu:

+ Lỗi cố ý trực tiếp

+ Động cơ vụ lợi là dấu hiệu bắt buộc

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan là hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác. Tức là hành vi khai thác quyền năng sử dụng của tài sản mà không được sự đồng ý chủ tài sản, hành vi này không làm mất đi quyền năng định đoạt của chủ tài sản với tài sản. Sau thời gian sử dụng tài sản, tài sản không bị mất đi vẫn còn nguyên tính năng sử dụng ban đầu.

Ví dụ: A sang nhà hàng xóm lấy xe máy đi chở hàng trong lúc không có ai ở nhà, sau đó trả lại xe ở vị trí cũ.

+ Hành vi trên chỉ cấu thành tội phạm nếu tài sản sử dụng trị giá từ 50 triệu đồng trở lên và phải thoả mãn 1 trong 3 điều kiện.

1. Gây hậu quả nghiêm trọng.

2. Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này.

3. Đã bị kết án về tội này chưa được xoá án tích.

Các tình tiết này về nội dung giống tội trộm cắp tài sản.

Thông thường, tài sản là đối tượng tác động của tội này là những vật không tiêu hao như bất động sản, xe máy, ô tô.

3.3.3. Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143)

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm giống Điều 141.

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan là hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản người khác, thường thể hiện ở hành vi đập, phá, gây nổ, gây cháy. Có thể thực hiện bằng hành động hoặc không hành động.

+ Hậu quả của tội phạm, tội phạm hoàn thành khi tài sản nói trên bị hư hỏng, bị huỷ hoại trị giá từ 500.000đ trở lên. Nếu tài sản bị huỷ hoại giá trị dưới 500.000 đồng phải thoả mãn 1 trong 3 điều kiện giống tội sử dụng trên phép tài sản.

Chú ý: Đối tượng tác động của Điều 143 không phải là những công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia. Vì hành vi huỷ hoại những tài sản này cấu thành Điều 231 tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia.

3.3.4. Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà nước (Điều 144)

Khách thể của tội phạm xâm phạm quan hệ sở hữu Nhà nước.

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan là hành vi thiếu trách nhiệm, tức là hành vi không làm, làm không đúng, không đầy đủ nhiệm vụ được giao như: bảo vệ bỏ vị trí trực làm mất tài sản.

+ Hậu quả của tội phạm tài sản Nhà nước bị mất, hư hỏng, lãng phí trị giá từ 50 triệu đồng trở lên.

Chủ thể của tội phạm: Là người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản Nhà nước. Như bảo vệ, thủ kho, thủ trưởng cơ quan, lái xe...

Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý cẩu thả.

3.3.5. Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145)

Khách thể của tội phạm xâm phạm quan hệ sở hữu.

Chủ thể của tội phạm bất kỳ ai có NLTNHS.

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở 2 dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan là hành vi không tuân thủ, tuân thủ không đúng, không đầy đủ quy tắc bảo quản tài sản.

+ Hậu quả của tội phạm tài sản bị thiệt hại từ 50 triệu đồng trở lên.

Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi vô ý cẩu thả hoặc vì quá tự tin.

BÀI VIẾT TƯƠNG TỰ:
Kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm tại TP. Hồ Chí Minh: Xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm
Thái Bình: Đấu tranh với hành vi vi phạm an toàn thực phẩm
TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH DỰ, NHÂN PHẨM VÀ UY TÍN BỊ XÂM PHẠM: CỞI ĐỒ, ĐI KIỆN . .
NL - Nguyễn Văn Vàng không phạm tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có
BÀI VIẾT MỚI HƠN :
Bài 4. Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế - 13.11
Bài 5. Các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân - 13.11
Nhập môn phần các tội phạm - 13.11
Bài 6. Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân, gia đình - 13.11
Bài 7. Các tội phạm về ma túy - 13.11
BÀI VIẾT TRƯỚC ĐÓ :
Bài 2. Các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người - 13.11
Bài 1. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia - 02.04

Câu hỏi và bài tập tình huống
Câu hỏi

1. So sánh tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản.

2. So sánh tội cướp tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

3. So sánh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

4. So sánh tội cướp tài sản với tội cướp giật tài sản.

Bài tập tình huống

Bài tập số 01

Chiều 13/03/2004, Nguyễn Thành cùng Trần Tám đi mua cá giống về nuôi, đến phà Cồn Tiên (An Giang) có em bé mời mua vé số. Thành móc túi lấy ra 6.000đ mua 03 tờ vé số. Trong khi Thành trả tiền, Tám giơ tay ra lấy 03 tờ vé số từ người bán đút vào túi quần và nói: "Nếu trúng thưởng vài triệu rồi sẽ nhậu nhé". Thành không có phản ứng gì. Sáng hôm sau khi dò vé số biết trúng thưởng giải đặc biệt Tám đã rủ bạn gái là Hồ Lộng Ngọc cùng đi nhận thưởng 150 triệu. Tám dặn Ngọc đừng nói cho ai biết việc trúng thưởng vé số và đưa cho Ngọc 500.000đ. Chiều cùng ngày khi Tám gặp Thành, Tám nói: "03 tờ vé số hôm qua trật lất hết rồi", đồng thời khoe với Thành có người nhà ở Mỹ vừa gửi về 3.000 USD rồi rủ Thành đi nhậu. Thành nghi ngờ và tiến hành điều tra xác minh được biết 3 vé số mà mình mua trúng giải đặc biệt.

Thành yêu cầu Tám trả lại số tiền đó nhưng Tám kiên quyết từ chối với lý do là vé không trúng thưởng.

Xác định Tám có phạm tội không. Tội gì ? Tại sao?

Bài tập số 02

Trần Hùng là sinh viên Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Vào khoảng 09 giờ ngày 20 tháng 08 năm 2002, Hùng đi xe máy tới trường rồi gửi xe vào bãi giữ xe của trường nhưng vẫn cắm chìa khoá ở ổ khoá. Khi Hùng đi khỏi Nguyễn Thành phát hiện thấy xe của Hùng có chìa cắm ở ổ khoá đã lợi dụng lúc người giữ xe không để ý, rút lấy chìa khoá đó rồi đi ra ngoài. Khoảng 10 phút sau Thành quay lại tra chìa vào ổ khoá chiếc xe của Hùng rồi dắt xe ra ngoài. Khi người giữ xe hỏi thẻ giữ xe, Thành luống cuống trả lời là dắt lộn xe rồi dắt xe quay lại để ở vị trí cũ. Người giữ xe thấy có nghi ngờ nên đã bắt giữ Thành. Qua điều tra Thành khai nhận diễn biến vụ việc như trên.

Hãy xác định trách nhiệm hình sự của Thành.

Bài tập số 03

Trần Hoàn trú tại Thăng Bình (tỉnh Quảng Nam), làm thuê cho cửa hàng điện tử số 37 Hùng Vương, thành phố Đà Nẵng. Hoàng thường xuyên nhận nhiệm vụ giao hàng điện tử cho Hoàn Mỹ trú tại Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Do có quan hệ quen biết với Mỹ nên Hoàn nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trong nhà Mỹ. Hoàn đã bàn bạc với Chuyên và Huy, được hai tên đồng ý.

Vào lúc 16 giờ ngày 20/10/2003, theo kế hoạch Huy chui vào thùng đựng tủ lạnh. Hoàn và Chuyên đã mang thùng hàng này tới nhà Mỹ và nói với Mỹ cho gửi lại sáng mai tới lấy để đưa vào giao cho người khác ở Tam Kỳ. Khoảng 23 giờ khi mọi người trong nhà ngủ im ắng, Huy chui ra khỏi thùng hàng mở chốt cửa phía trong nhà Mỹ cho Hoàn và Chuyên đợi sẵn ngoài cổng vào trong nhà, 03 tên lấy được 3 linh kiện hàng trị giá 50 triệu đồng bán tiêu xài.

Hãy xác định tính chất pháp lý hình sự của vụ án trên.

Bài tập số 04

Hoàng Văn Huy do muốn có tiền tiêu xài nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Huy theo dõi thấy cô giáo Thuỷ đang đi dạy về qua đường nên Huy đã giả danh là một sinh viên, ăn mặc lịch sự, đón xe của cô Thuỷ quá giang và được Thuỷ đồng ý cho đi nhờ, rồi Thuỷ giao tay lái cho Huy. Khi qua đoạn đường vắng người, Huy giả vờ đánh rơi chiếc mũ và dừng lại, rồi nhờ cô Thuỷ quay lại nhặt hộ mũ. Khi Thuỷ đi nhặt mũ thì Huy phóng xe máy tẩu thoát. Thấy vậy, Thuỷ hô "cướp, cướp" và Huy đã bị những người dân làm việc gần đấy bắt giữ.

Hãy xác định Huy phạm tội gì. Tại sao?

Bài tập số 05

Ông Trần Đình Khang trú tại huyện Mỹ Đức (Hà Tây) có hai con vịt đẻ thường xuyên thả ra cánh đồng trước nhà. Chiều 09/06/2000, không thấy vịt về, Khang đi tìm thì được một số người cho biết là Thái Hoàng Phương (bảo vệ thôn) đã lùa vịt từ ruộng mạ vào bãi dâu để bắt. Khang lên UBND xã báo sự việc. Sáng hôm sau, Khang tìm thấy hai con vịt bị khoá cánh đã chết nằm cạnh một quả trứng trong bãi dâu. Khang đã đến UBND xã báo cáo thì gặp Phương đang ở đó. Khang yêu cầu Phương viết giấy đền bù hai con vịt đẻ là 500.000đ. Vì sợ bị cắt hợp đồng bảo vệ nên Phương đã ký nhận vào giấy cam kết nhưng sau đó không thực hiện. Khang làm đơn yêu cầu uỷ ban xã giải quyết. Chiều 12/7/2000, xã mời hai bên lên hoà giải lần cuối cùng nhưng không thành. Khang ra về với lời lăng mạ thách thức sẽ xử theo luật rừng và sẽ về nhà Phương bắt trâu để thực hiện cam kết.

Trên đường từ xã về, Khang ghé nhà Phương thì gặp Trương Thị Quỳnh (vợ Phương) đang dắt trâu vào chuồng. Khang xông vào túm lấy thừng trâu giằng co với Quỳnh. Thừng đứt, trâu sổng chuồng lội xuống ao làng. Khang lội xuống ao dắt trâu về nhà hằng ngày đi chăn giữ nhằm thi hành án.

Trong lúc giằng co trâu, thừng đứt Quỳnh bị ngã va đầu vào tường tỷ lệ thương tật 11%.

Hãy đánh giá tính chất pháp lý hình sự của vụ án trên.

Bài tập số 06

Khoảng 16 giờ ngày 30 tháng 09 năm 2003, Đoàn Minh Đĩnh trú ở quận 12, thành phố Hồ Chí Minh cao hứng chở vợ là Mạc Thị Ngân đến thăm nhà người bạn là Huệ ở cách nhà Đĩnh khoảng 2 km. Tại nhà Huệ, uống xong 1 tuần trà, Đĩnh bảo vợ: “Em ở lại chơi với Huệ, anh về cho heo ăn”, rồi Đĩnh lấy xe đi về nhà. Ngân vừa nói chuyện với Huệ vừa hồ nghi trong bụng, bởi chính Ngân vừa cho heo ăn xong. Hơn nữa, từ trước tới nay Đĩnh đâu có để ý tới chuyện nuôi heo, cớ gì hôm nay lại quan tâm như vậy. Ngân nói với Huệ cho qua chuyện rồi ra thuê xe ôm về nhà quyết tìm cho ra sự thật.

Tới nhà, cửa nhà mở, trong nhà im ắng, Ngân lại nghe có tiếng nói nho nhỏ, tiếng thở khe khẽ. Ngân cầm cái kéo may, đạp mạnh cửa buồng xông vào và sững sờ nhìn thấy chồng mình đang cùng chị Yến Vy (người hàng xóm đã có chồng) đang làm chuyện mây mưa trên giường.

Ngân quơ hết mớ quần áo của 02 người vứt ra khỏi buồng. Tiếp đến, Ngân nhảy vào tát vào mặt Vy 02 cái và đạp 03 đạp. Vy ngồi im không dám la. Đĩnh cũng ngồi im ôm gối sợ vợ làm to chuyện. Ngân đánh đấm Vy một hồi mỏi tay chân, Ngân quay ra dùng kéo cắt tóc Vy. Ngân vừa cắt tóc Vy, vừa doạ: “Mày khôn hồn thì ngồi im, nếu chống cự thì tao la làng ngay cho mọi người đến coi thử xem ai xấu hổ”.Vy phải cúi lạy Ngân, xin Ngân tha thứ. Ngân nói: “Mày phải mua danh dự”. Vy năn nỉ Ngân cho đền 2 con bò có sẵn bên nhà nhưng Ngân không đồng ý. Sau đó, Ngân thấy sợi dây chuyền 3 chỉ lấp lánh trên ngực Vy, Ngân cởi ra lấy luôn rồi cho Vy và Đĩnh mặc quần áo ra về.

Hãy xác định tính chất pháp lý của vụ án trên.

Bài tập số 07

Chiều 09/6/2001, ông Ngô Hà (trú tại thị trấn Tứ Hạ, huyện Hương Trà) mua 02 vé xổ số kiến thiết loại vé 3.000đ. Khoảng 10 giờ sáng hôm sau, anh Nguyễn Lam hàng xóm sang chơi, do không biết chữ nên Hà đã đưa cho Lam 02 vé số nhờ dò hộ. Khi dò vé số thấy 02 vé số trúng giải đặc biệt với số tiền 150 triệu đồng. Vì lòng tham muốn chiếm đoạt 02 vé số đó nên Lam nói là vé không trúng thưởng rồi vứt 02 vé số vào sọt rác trong góc nhà ông Hà. Sau 15 phút, Lam về nói với vợ là bà Nga: "Trong sọt rác nhà ông Hà có 02 vé số trúng giải đặc biệt cô qua đó giả vờ xin tấm bìa rồi lấy về". Nga thực hiện theo sự sắp đặt của Lam lấy được 02 vé số về rồi 02 vợ chồng đi nhận thưởng.

Hãy xác định trách nhiệm hình sự của Hà và Nga.

Trả Lời Với Trích Dẫn
TaiLieuTongHop.Com là một cộng đồng mở chia sẻ tài liệu miễn phí hoạt động phi thương mại. Chúng tôi không chịu trách nhiệm với nội dung bài viết của thành viên. van mau - dankinhte - soan bai, top keywords, bua
Xin thông báo, bây giờ là 09:47 PM
|