Thư Viện Tài Liệu Tổng Hợp

TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu tổng hợp hoàn toàn miễn phí dành cho mọi người

Hãy sử dụng chức năng tìm kiếm bên dưới để tìm tài liệu trước khi post yêu cầu liên diễn đàn!

Loading

VanMau.VN - Thư viện văn mẫu Việt Nam
+ Viết bài mới  + Trả lời bài viết
 
LinkBack Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 04-12-2012, 10:31 AM
die die is offline
Senior Member
 
Tham gia: Apr 2012
Tổng số bài gởi: 8,890
Send a message via Yahoo to die



4. Quan hệ giữa vợ chồng theo pháp luật hôn nhân - gia đình Việt Nam

CHƯƠNG IV.
QUAN HỆ GIỮA VỢ CHỒNG THEO PHÁP

LUẬT HÔN NHÂN- GIA ĐÌNH VIỆT NAM

Sự kết hôn hợp pháp đã làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng. Nội dung của quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng bao gồm các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Các quan hệ nhân thân và tài sải của vợ chồng được pháp luật bảo vệ và buộc các chủ thể phải được thực hiện.

Khác với chế độ bóc lột, mục đích của việc xác lập quan hệ nhân thân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Vì vậy, Luật Hôn nhân - gia đình điều chỉnh các quan hệ giữa vợ và chồng dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tiến bộ. Các nghĩa vụ giữa vợ và chồng vừa là nghĩa vụ pháp lý vừa là nghĩa vụ đạo đức.

Quan hệ giữa vợ và chồng được quy định tại chương IV từ điều 18 đến điều 33 của Luật Hôn nhân - gia đình 2000 trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của Luật Hôn nhân - gia đình 1986 cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội.

I. QUAN HỆ NHÂN THÂN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG (Điều 18 đến điều 26):

Đây là những quy định mang tính khái quát về quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, trên cơ sở kế thừa và cụ thể hoá một số quyền nhân thân cơ bản của cá nhân được quy định trong Hiến pháp 1992, các quy định trong Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân - gia đình 1986, đồng thời có bổ sung thêm một số quy định mới.

1. Tình nghĩa vợ chồng (điều 18):

Tình nghĩa vợ chồng là tình cảm phù hợp với đạo lý. Làm vợ, chồng của nhau phải hiểu rõ và hành động theo tình cảm, bổn phận và nghĩa vụ của mình, và lợi ích của vợ, chồng và lợi ích của các con, lợi ích của gia đình. Do vậy, điều 18 quy định: "Vợ chồng chung thuỷ, thương yêu quý trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững". Việc thực hiện bổn phận này vừa mang tính chất pháp lý vừa dựa trên cơ sở đạo lý. Quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ, chồng trong các quan hệ nhân thân, đồng thời ngăn chặn tình trạng vợ - chồng có quan hệ nam nữ bất chính.

2. Vợ chồng bình đẳng về nghĩa vụ và quyền (điều 19):

Vợ chồng bình đẳng về nghĩa vụ và quyền nhân thân, tài sản (như: bình đẳng trong việc giáo dục con cái; lựa chọn chỗ ở chung; lựa chọn nghề nghiệp...). Trong các quan hệ nhân thân và tài sản vợ chồng bình đẳng với nhau không phụ thuộc vào thu nhập, địa vị xã hội hoặc các yếu tố khác.

3. Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng (điều 20):

Nơi cư trú của vợ chồng về nguyên tắc do vợ chồng tự lựa chọn, việc lựa chọn nơi cư trú không bị ràng buộc bởi phong tục tập quán, địa giới hành chính. Để đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình và điều kiện làm việc của mỗi bên thì vợ chồng bàn bạc, thoả thuận quyết định lựa chọn nơi cư trú. Quy định của pháp luật nhằm xoá bỏ những quan niệm, tập tục có tính chất bắt buộc chỗ ở chung của nam nữ sau khi kết hôn "thuyền theo lái, gái theo chồng" hoặc tục ở rể của dân tộc Thái, buộc vợ, chồng không có quyền lựa chọn nơi ở chung.

4. Vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau (điều 21):

Quy định này vừa được bổ sung so với Luật Hôn nhân - gia đình 1986. Điều 21 đã cụ thể hoá các quy định tại điều 71 Hiến pháp 1992 và điều 33 Bộ luật Dân sự. Vợ chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự nhân phẩm và uy tín của nhau. Pháp luật cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ xúc phạm đến danh dự, uy tín của nhau.

5. Vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau, giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt (điều 22 và điều 23).

Đây là quyền cơ bản của công dân được quy định trong điều 68 của Hiến pháp 1992: "Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào". Do vậy, trong quan hệ vợ chồng phải tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau, không được cản trở, cưỡng ép theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Ngoài ra luật còn quy định vợ chồng cùng bàn bạc, tạo điều kiện giúp đỡ cho nhau lựa chọn nghề nghiệp, học tập, nâng cao trình độ văn hoá chuyên môn cũng như tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị...

6. Việc đại diện cho nhau giữa vợ và chồng (điều 24):

Việc đại diện đã được quy định tại điều 71 và điều 148 của Bộ luật Dân sự. Song quan hệ đại diện giữa vợ và chồng được Luật Hôn nhân - gia đình quy định cụ thể hơn. Đây là căn cứ pháp lý để xem xét các giao dịch dân sự do vợ chồng xác lập có đảm bảo tư cách đại diện hay không. Thể hiện:

- Khi tham gia xác lập thực hiện các giao dịch dân sự mà pháp luật quy định giao dịch đó phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng thông qua sự thoả thuận, cùng ký vào văn bản giao dịch (như bán các tài sản chung có giá trị lớn: nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất...). Trong trường hợp vợ hoặc chồng ở xa hoặc không trực tiếp tham gia thì có thể uỷ quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch dân sự đối với các giao dịch mà theo quy định phải có sự đồng ý của cả vợ chồng. Việc uỷ quyền phải lập thành văn bản để xây dựng rõ phạm vi uỷ quyền.

- Vợ chồng đại diện cho nhau khi một bên vợ hoặc chồng mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được Toà án chỉ định người đại diện trong quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự của Toà án.

Tuy nhiên, trong thực tế đối với những tài sản nào được xem có giá trị lớn để buộc phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng khi tham gia giao dịch thì chưa có quy định cụ thể, nhất là đối với những loại hợp đồng pháp luật quy định về hình thức có thể thoả thuận miệng hoặc văn bản, việc xác định sự đồng ý thoả thuận gặp nhiều khó khăn (chẳng hạn: vay tài sản trị giá 50 triệu các bên có thể thoả thuận dưới hình thức miệng hoặc bằng văn bản, nhưng mua bán nhà có trị giá 30 triệu thì bắt buộc phải bằng văn bản có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền, trước bạ, sang tên...). Do vậy, trong thực tế xét xử việc xác định tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng căn cứ vào mức sinh hoạt bình thường ở địa phương của vợ chồng thường trú, căn cứ vào mức sống của mỗi gia đình và giá trị của tài sản đó trong khối tài sản chung của vợ chồng.

7. Về trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện (điều 25)

Vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các giao dịch dân sự hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình (nhu cầu ăn, mặc, ở, khám chữa bệnh, học tập...). Trong trường hợp này được xây dựng là có sự thoả thuận mặc nhiên của vợ chồng nên vợ chồng phải chịu trách nhiệm bằng tài sản chung hợp nhất vì các giao dịch này vì mục đích gia đình chứ không phải vì lợi ích riêng của vợ hoặc chồng...

8. Quan hệ hôn nhân khi một bên bị tuyên bố là đã chết mà trở về (điều 26):

Việc tuyên bố một người là đã chết được quy định tại điều 91, điều 92 và điều 93 Bộ luật Dân sự. Trong trường hợp người bị tuyên bố đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là họ còn sống thì theo yêu cầu Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết. Trong trường hợp này pháp luật phân biệt 2 khả năng.

+ Trong trường hợp người bị tuyên bố đã chết trở về mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với ai khác thì quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng đương nhiên được khôi phục.

+ Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người đó đã hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.

II. QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN - GIA ĐÌNH 2000 (từ điều 27 đến điều 33):

Các quy định về tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân - gia đình 2000 về cơ bản kế thừa các quy định của Luật Hôn nhân - gia đình 1986, cụ thể hoá một số quy định của Luật dân sự, đồng thời bổ sung một số quy định mới nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay. Bao gồm:

1. Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng:

Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân - gia đình 1959, Luật Hôn nhân - gia đình 1986 và Luật Hôn nhân - gia đình 2000 quy định khác nhau.

Luật Hôn nhân - gia đình 1959, điều 15 quy định: "Vợ chồng có quyền sở hữu, hưởng thụ ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới". Theo quy định của Luật Hôn nhân - gia đình 1959 thì tất cả tài sản của vợ chồng có trước khi kết hôn hoặc tài sản của vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng. Luật Hôn nhân - gia đình 1959 không thừa nhận quyền sở hữu tài sản riêng của vợ chồng. Quy định này vào thời điểm đó nhằm xây dựng một quan hệ hôn nhân - gia đình mới dựa trên nguyên tắc hôn nhân tự do, tiến bộ, vợ chồng bình đẳng, không phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế của mỗi người.

Luật Hôn nhân - gia đình 1986 quy định vợ chồng có quyền sở hữu đối với tài sản chung hợp nhất (điều 14), ngoài ra vợ chồng còn có quyền có tài sản riêng (điều 16).

Luật Hôn nhân - gia đình 2000 quy định vợ chồng có quyền sở hữu đối với tài sản chung hợp nhất, có quyền có tài sản riêng, ngoài ra còn có quy định chi tiết quyền sử dụng, định đoạt tài sản của vợ chồng.

a. Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất:

* Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng (điều 27):

Tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung và những tài sản khác vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.

Như vậy, tài sản chung của vợ chồng được xây dựng căn cứ vào nguồn gốc tài sản gồm: tiền lương, tiền thưởng, tiền lương hưu, tiền trợ cấp, các khoản thu nhập về sản xuất ở gia đình và các khoản thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng không phân biệt mức thu nhập của mỗi bên. Các tài sản mà vợ chồng mua sắm được từ các nguồn nói trên hoặc tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung.

Như vậy, so với luật hôn nhân - gia đình 1986 thì Luật Hôn nhân - gia đình 2000 đã bổ sung thêm cụm từ "và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung" đây là quy định có tính mềm dẻo đảm bảo quyền tự định đoạt của vợ chồng, khuyến khích việc xây dựng củng cố chế độ tài sản chung hợp nhất của vợ chồng, góp phần sự củng cố bền vững của gia đình. Ngoài căn cứ nói trên thì Luật Hôn nhân - gia đình 2000 cũng quy định cụ thể hơn để đảm bảo việc xây dựng tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản của vợ hoặc chồng được chính xác:

- Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản vợ chồng đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên, thì tài sản đó là tài sản chung". (khoản 3 điều 27). Đây là quy định mang nguyên tắc suy đoán để xác định tài sản khi ly hôn hoặc những trường hợp tranh chấp khác. Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng khẳng định tài sản đó là tài sản riêng của mình thì phải đưa ra các chứng cứ chứng minh, nếu không có chứng cứ chứng minh thì được suy đoán là tài sản chung của vợ chồng.

- Đối với quyền sử dụng đất pháp luật quy định: quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc thu nhận hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chủ là tài sản chung của vợ chồng khi có sự thoả thuận.

- Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên cả vợ và chồng. Quy định của pháp luật nhằm mục đích tránh sự lạm dụng của vợ hoặc chồng tự ý tham gia các giao dịch có liên quan đến tài sản chung, làm cho cơ quan có thẩm quyền khi làm thủ tục nhầm lẫn giữa tài sản chung và tài sản riêng. Quy định của pháp luật nhằm tạo ra căn cứ pháp lý cần thiết xây dựng rõ đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng của vợ chồng thoả thuận hoặc một bên tự ý đứng tên trong các giấy tờ do không hiểu biết pháp luật thì không ảnh hưởng gì đến quyền sở hữu chung của vợ chồng đối với tài sản đó, kể cả người thứ ba tham gia giao dịch bởi lẻ khi giải quyết tranh chấp thì bên vợ, chồng cho rằng đó là tài sản riêng phải chứng minh nguồn gốc tài sản, thu nhập tạo ra; nếu không chứng minh được thì Toà án xác định là tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc "thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân" (theo khoản 1 và khoản 3 điều 27).

- Cũng được coi là tài sản chung của vợ chồng đối với những tài sản mà vợ chồng có trước khi kết hôn hoặc những tài sản được tặng riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ chồng tự nguyện nhập vào khối tài sản chung. Khoản 2 điều 32 quy định: "vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản này vào khối tài sản chung". Đây là quy định cần thiết nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt của vợ, chồng. Trong thực tế việc xác định "tự nguyện nhập vào tài sản chung" hết sức khó khăn nên pháp luật cần có hướng dẫn thi hành luật cụ thể vấn đề này. Hiện nay dự thảo nghị định Chính phủ hướng dẫn thi hành luật cụ thể hoá: Việc nhập tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng tại koản 2 điều 32 luật Hôn nhân - gia đình đối với tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất hoặc những tài sản khác có giá trị lớn phải được thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của bên vợ hoặc chồng là chủ sở hữu đó. Quy định này để tránh tình trạng tài sản riêng của vợ hoặc chồng nhưng được đưa vào sử dụng chung sau khi kết hôn nhưng khi ly hôn thì một số Toà án lại xác định vợ chồng đã tự nguyện nhập vào khối tài sản chung như nhà ở, quyền sử dụng đất....là không hợp lý. Vấn đề này đã được cụ thể hoá tại điều 99 của Luật nhưng mới chỉ đề cập đến nhà thuộc sở hữu riêng của vợ chồng: Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn nhà đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà, nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị căn nhà, căn cứ vào công sức bảo dưỡng nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà.

* Chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung (điều 28) Luật Hôn nhân - gia đình 2000 đã quy định cụ thể việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung như sau:

- Tài sản chung thuộc sở hữu chung hợp nhất do đó vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản chung. Đây là đặc trưng trong quan hệ tài sản giữa vợ và chồng.

- Tài sản chung vợ chồng được chi dùng để đảm bảo những nhu cầu chung của gia đình thì được xác định là đương nhiên có sự thoả thuận của cả hai vợ chồng. Việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự (mua bán, tặng cho, cho vạy....) liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được sự bàn bạc thoả thuận (trừ tài sản chung đã được chia đầu tư kinh doanh riêng khi hôn nhân đang tồn tại theo khoản 1 điều 29 luật 2000). Do vậy, trong trường hợp xác lập, chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản có giá trị lớn như nhà ở, xe ôtô, mô tô, trâu bò... hoặc việc thành lập doanh nghiệp tư nhân, góp vốn vào công ty bằng tài sản chung bắt buộc phải có sự thoả thuận bằng văn bản và phải có chữ ký của vợ, chồng (nếu không có giấy uỷ quyền hợp pháp).

- Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất có nghĩa là không căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng để tạo lập khối tài sản để xác định phần quyền của từng người. Trong từng trường hợp có thể do điều kiện sức khoẻ, nghề nghiệp... nên sự đóng góp vào khối tài sản chung không ngang nhau; nhưng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung là ngang nhau nên luật quy định: "Lao động trong gia đình coi như lao động sản xuất".

b. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (điều 29, điều 30):

Theo Luật Hôn nhân - gia đình 1986 điều 18 quy định: "Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên có yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại điều 42 của luật này".

Xuất phát từ tình hình thực tế quan hệ hôn nhân - gia đình, đồng thời cũng xuất phát từ việc đảm bảo lợi ích chính đáng của vợ, chồng đối với tài sản; trên có sở kế thừa Luật Hôn nhân - gia đình 1986, điều 29 luật 2000 quy định: "Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ, chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải được lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết".

Vợ, chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp nhằm trốn tránh trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản thì không được thừa nhận. Việc chia tài sản chung của vợ chồng không phải gián tiếp thừa nhận chế định ly thân mà nhằm tạo điều kiện cho vợ chồng tham gia các quan hệ kinh tế, thực hiện các nghĩa vụ riêng về tài sản .... trong những trường hợp sau:

+ Vợ, chồng dùng tài sản để đầu tư kinh doanh riêng.

+ Vợ, chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng: trả nợ, bồi thường thiệt hại...

+ Các lý do chính đáng khác: một bên có hành vi hoang phí, phá tán tài sản; vợ chồng đã già mà tính tình không hợp nhưng xin ly hôn ảnh hưởng đến con cái, danh dự...

* Thủ tục:

+ Vợ chồng tự thoả thuận chia tài sản chung bắt buộc bằng văn bản có chữ ký của vợ và chồng (tuỳ từng trường hợp có thể có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền).

+ Yêu cầu Toà án giải quyết chia tài sản theo thủ tục tố tụng dân sự.

* Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Việc chia tài sản chung của vợ chồng theo điều 29 của Luật Hôn nhân - gia đình có hậu quả pháp lý như sau:

- Kể từ thời điểm có văn bản thoả thuận hoặc quyết định chia tài sản chung thì tài sản đó là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng.

- Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người (không theo nguyên tắc thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân vì đây đã là tài sản riêng).

- Phần tài sản không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.

c. Quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng (điều 32, 33).

* Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng:

Điều 32 Luật Hôn nhân - gia đình 2000 quy định: "Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân ; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo điều 29 và khoản 30 của luật này: đồ dùng tư trang cá nhân. Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung''.

Kế thừa Luật Hôn nhân - gia đình 1986, Luật 2000 qui định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng. Việc xác định tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm:

- Tài sản có trước khi kết hôn;

- Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân:

- Tài sản được chia khi hôn nhân tồn tại (kể cả hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản đó);

- Đồ dùng tư trang cá nhân.

Chế độ tài sản của riêng vợ chồng theo Luật Hôn nhân - gia đình là hoàn toàn phù hợp với quyền sở hữu tài sản của công dân theo Hiến pháp 1992. Quy định này hoàn toàn không ảnh hưởng đến tín chất của hôn nhân mà còn tạo điều kiện cho vợ, chồng tự do kinh doanh, thực hiện các nghĩa vụ về tài sản độc lập; đồng thời còn ngăn chặn hiện tượng kết hôn vụ lợi, sau đó xin ly hôn để chia tài sản chung.

*Chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng.

- Vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng theo pháp luật ở hữu.

- Vợ chồng tự qủan lý tài sản, sử dụng và định đoạt tài sản riêng theo pháp luật sở hữu.

- Vợ, chồng tự quản lý tài sản riêng; trong trường hợp vợ chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó.

- Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

- Xuất phát từ lợi ích các thành viên trong gia đình và đặc điểm riêng biệt của quan hệ hôn nhân - gia đình, pháp luật qui định riêng: trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thất yếu của gia đình thì phải sử dụng cả tài sản riêng. Ngoài ra pháp luật cũng qui định hạn chế quyền đối với tài sản riêng trong từng trường hợp tài sản riêng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, tức thu được từ tài sản là nguồn sống duy nhất cuả gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được thỏa thuận của hai vợ chồng.

2. Quyền thừa kế tài sản giữa vợ chồng (điều 31).

Qui định quyền thừa kế tài sản giữa vợ chồng tại điều 31 luật 2000 cụ thể hóa qui định của Bộ luật Dân sự, thể hiện:

- Vợ chồng có quyền thừa kế của nhau theo qui định của pháp luật thừa kế.

- Khi vợ hoặc chồng chết hoặc bị toà án tuyên bố thì bên còn sống quản lí tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý tài sản.

- Trong trường hợp yêu cầu chia tài sản thùa kế mà việc chia tài sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng chung chưa chia trong một thời hạn nhất định. Nếu hết thời hạn do Toà án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì người thừa kế khác có quyền yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế.

Trên cơ sở qui định của điều 31, Nghị quyết số 02/2000/QĐ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn:

Việc chia tài sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình là trong trường hợp người chết có để lại di sản, nhưng nếu đem chia di sản cho những người thừa kế ảnh hưởng thì vợ hoặc chồng còn sống với gia đình gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống: không có chỗ ở, mất nguồn tư liệu duy nhất....

Trong trường hợp Tòa án chỉ xác định phần di sản những người thừa kế chỉ có quyền yêu cầu chia di sản sau thời hạn 3 năm, nếu trong thời hạn này bên còn sống là vợ hoặc chồng của người chết chưa kết hôn với người khác.

3. Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng (Điều 60 Luật Hôn nhân - Gia đình)

Trả Lời Với Trích Dẫn
TaiLieuTongHop.Com là một cộng đồng mở chia sẻ tài liệu miễn phí hoạt động phi thương mại. Chúng tôi không chịu trách nhiệm với nội dung bài viết của thành viên. van mau - dankinhte - soan bai, top keywords, bua
Xin thông báo, bây giờ là 07:45 PM
|