Thư Viện Tài Liệu Tổng Hợp

TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu tổng hợp hoàn toàn miễn phí dành cho mọi người

Hãy sử dụng chức năng tìm kiếm bên dưới để tìm tài liệu trước khi post yêu cầu liên diễn đàn!

Loading

VanMau.VN - Thư viện văn mẫu Việt Nam
+ Viết bài mới  + Trả lời bài viết
 
LinkBack Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 04-05-2012, 12:30 PM
Admin's Avatar
Administrator
 
Tham gia: Jun 2011
Tổng số bài gởi: 4,541



254 bài thơ Nôm Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Lời đầu :Hiện nay thị trường sách có nhiều bản Quốc âm thi tập Nôm Nguyễn Trãi. Riêng thư viện gia đình chúng tôi có trong tay các bản của Trần Văn Giáp - Phạm Trọng Điềm 1956 - Đào Duy Anh 1976 - Bùi Văn Nguyên 1994 - Vũ Văn Kính 1995 - nhóm Mai Quốc Liên 2000.

Giới hạn trong cuốn sách này( 2008 )“Đọc lại 254 bài thơ Nôm QÂTT Nguyễn Trãi ?,
nhằm so sánh một cách khách quan :
- Cách chuyển từ Nôm ra quốc ngữ
- Các chú thích từ và điển tích trong 254 bài ,
- Đưa ra nhận xét cá nhân ,đưa ra cách đọc của mình , sau khi đã tham khảo các bản của các bậc Cao Minh trên và tra cứu tất cả các Tự điển chữ Nôm trong và ngoài nước. Những Từ điển dùng để tra chữ Nôm khi đọc lại 254 bài thơ Nôm QÂTT Nguyễn Trãi

1- Từ điển chữ Nôm Viên Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội 2006
2- Từ điển An nam – Lusitan- La Tinh ( Việt - Bồ -La) , nă m 1651 của Alexandre De Rhodes , phiên dịch Nguyễn Thanh lãng - Hoàng Xuân Việt - Đỗ Quang Chính ; Nhà xuất bản khoa học xã hội , 1991 ;
3- Từ điển chữ Nôm Yonosuke Takeuchi daigakusyorin 1988 ;
4- Tự điển chữ Nôm Nguyễn Quang Xy – Vũ Văn Kính – Trung tâm học liệu , Sài Gòn 1971 ;
5- Huỳnh Tịnh Paulus Của Đại Nam quốc âm tự vị ( (ấn bản 1895-1896 ) Nhà xuất trẻ Sài Gòn 1998;
6- Đại từ điển chữ Nôm Vũ Văn Kính , Sài Gòn 1999;
7- Bảng tra chữ Nôm Viện Ngôn ngữ học , Hà Nội 1978( ký hiệu thư viên quốc gia VV 458/76);
8- Dictionarium Anamitico – Latinum 1771-1773
9- Dictionnaire Annamite – Francais của jean Bonét 1898;
10-Dictionaire Historique de ideogrammess Vietnamien của Paul Schneider;
v.v…

Hy vọng sẽ thu nhận được thêm rất nhiều góp ý quý báu của độc giả ham thích chữ Nôm trong và ngoài nước. Nguyễn Văn Hoa

Bài 1

Câu 1 bài 1 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Chuyển Nôm ra quốc ngữ
Trần Văn Giáp -Phạm Trọng Điềm TVG-PTĐ ) 1956 :
Góc thành Nam lều một gian .
Đào Duy Anh ĐDA 1976
Góc thành Nam lều một gian

Bùi Văn Nguyên BVN 1994
Góc thành Nam lều một gian
Vũ Văn Kính VVK 1995
Góc thành Nam lều một gian

2- Chú thích

TVG-PTĐ
Nguyễn Trãi bị giặc Minh giam ở Đông Quan trước khi gặp Lê Lợi .
ĐDA : Nguyễn Trãi bị Lê Lợi ruồng bỏ ở Đông Quan .
BVN: Thành Nam ở Con Cuông Nghệ An . Trước khi gặp Lê Lợi .

3- Nhận xét :

Có hai cách hiểu:
Bài thơ này Nguyễn Trãi làm trước hoặc sau khi gặp Lê Lợi.
Có lẽ còn tồn nghi thời điểm ra đời của bài thơ này.

4- Kết luận :
Theo mặt chữ Nôm có thể đọc như sau
Góc thành Nam lều một gian.

Câu 2 bài 1 /254 QÂTT Nguyễn Trãi

TVG-PTĐ
No nước uống thiếu cơm ăn
ĐDA
No nước uống thiếu cơm ăn
BVN
No nước uống thiếu cơm ăn
VVK
No nước uống thiếu cơm ăn
MQL
No nước uống thiếu cơm ăn

Nhận xét : Các bản đều thống nhất
No nước uống thiếu cơm ăn
Còn phần chú thích
DDA
Bấy giờ không trọng dụng nữa nên có thể là nghèo .
BVN
Chỉ rõ cảnh rừng núi ở Con Cuông Nghệ An

3-Nhận xét :
BVN cho rằng vì Nguyễn Trãi bị giam ở rừng núi Nghê An trước khi gặp Lê Lợi.
Còn DDA thì cho rằng Nguyễn Trãi bị Lê Lợi bỏ đói .
Và câu 2 bài thơ số 1 là
No nước uống thiếu cơm ăn .

Câu 3 bài 1 QÂTT 254 bài thơ Nôm Nguyễn Trãi

1- Phần phiên âm :
TVG
Con đòi trốn dễ ai quyến
DDA
Con đòi trốn dường ai quyến
BVN :
Con đòi trồn dường ai quyến
VVK/MQL-Kiều Thu Hoạch
Con đòi trốn dường ai quyến

2- Chú thích :
TVG
Con đòi :Con đòi người ở gái
dễ ai khiến : có lẽ ngườI nào xui khiến nó
DDA
Theo mặt chữ nôm phiên là dường , nghĩa là dường như có ai quyến rủ mất, xem thêm câu 2 bài 68 ( con cháu nhiều ngày chịu khó dường NVH )
BVN
Con đòi: con ở;
quyến: rủ rê lôi kéo (ý kiến của ông Kiều Thu Hoạch cho quyến là nhớ nghĩ đến chứ không phải là quyến rũ )

3- Nhận xét ;
TVG phiên âm là “dễ” còn các tác giả DDA-BVN-VVK-KTH đều phiên là “dường”.
Và cũng có cách hiểu chữ “ dường “ giữa KTH( nhớ nghĩ đến ) và ĐDA-BVN( quyến rũ , rủ rê lôi kéo ), rõ ràng có khác nhau

Câu 4 bài 1 Thủ Vĩ Ngâm

1- Phiên âm nôm ra quốc ngữ :
TVG-PTĐ;
Bầy ngựa bầy thiếu kẻ chăn
DDA
Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn
BVN
Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn
VVK :
bầy ngựa gầy thiếu kẻ chăn

2- Chú thích:
ĐDA
Bà ngựa là con ngựa. Xưa người ta nói bà ngựa cũng như nói “ông voi “
BVN
Dị bản thì là bầy, còn bà chỉ một con cho Nguyễn Trãi dùng trong bầy ngựa , và bà chỉ giống cái thì cũng có nghĩa là ngựa cái . (Ý kiến KTH cho bà là con , bà ngựa tức con ngựa cái nói chung )

3- Nhận xét :

Câu 4 bài 1 có 1 từ bầy - bà là có sự phiên âm khác nhau
Tra từ điển AR( TK 17 ) thì bà là từ cổ , bà ngựa là con ngựa ,
Do vậy để bà ngựa có lẽ đúng với từ mà Nguyễn Trãi dùng ở thế kỷ 16 .

Câu 5 QÂTT bài 1 Nôm Nguyễn Trãi

1- Phiên âm Nôm ra quốc ngữ
TVG-PTĐ
Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá
DDA
Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá
BVN :
Ao vợi hẹp hòi khôn thả cá
VVK
Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá
- nhóm MQL
- khôn : tiếng cổ : khó

2- Chú Thích ; TVG-PTĐ
khôn : khó lòng, khó khăn
DDA :
Vì ao hẹp nên khó thả cá
BVN
Ao vợi theo dị bản ,ao vợi là ao cạn nước
Khôn biến âm của từ không hay dùng trong thời cổ .
3 Nhận xét :
Có khác nhau :
“bởi” và chữ “vợi “
Có giải thích chữ “ không ‘ là không hoặc khó .
- Theo Từ điển An Nam – Lusitan-la tinh (Alexandre de Rhodes nhóm Thanh lãng Hoàng xuân Việt Đỗ Quang Chính , Nhà xuất bản Khoa học xã hội 1991 ( ký hiệu thư viện viện KHXH Lý Thường Kiệt ,Hà Nôi Vv3579 )

- Trang 274 : khôn;khôn kháo; khôn ngoan;khôn dẹa, khôn mạc nói hết; - Trang 71 Bởi , dởI đâu : do nơi nào
- Theo từ điển chữ Nôm Viện nghiên cứu Hán Nôm Nhóm Nguyễn Quang Hồng ,Trang 60 Chữ “bởi” : có 4 chữ “ bởi c2, F1 , f2 nghĩa trỏ nguyên nhân , trỏ nơi chốn,
- Trang 1250 vợI nghĩa là giảm bớt đi
- Trang 514 “Khôn” : , nghĩa là a1 không dạI ,; khó có thể , chẳng thể nào , có dẫn câu “ Ao bởI hẹp hòi khôn thả cá .

4- Kết luận :Như vậy câu 5 bài 1 đọc là
- Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá.

Câu 6 bài 1 QÂTT Nguyễn Trãi Nôm

1- Phần chuyền Nôm ra quốc ngữ
TVG-PTĐ
Nhà quen xuế xoá ngại nuôi vằn
ĐDA
Nhà quen xú xứa ngại nuôi vằn
BVN
Nhà quen thú thứ ngại nuôi vằn
VVK
Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn

2- Chú Thích :
TVG-PTĐ
xuế xoá :giản dị, qua loa, dễ dàng
Vằn : con chó vằn , ta thường gọi con vằn
DDA
Xú xứa hoặc thú thứa nghĩa là xuề xoà , xềnh xoàng
Vằn là : chó vằn , con chó
BVN :
Thú thứa dị bản thuế thoá , đều có nghĩa xuề xoà , giản dị
Vằn : từng vết loang lổ xen nhau, , chó vằn cũng gọi chó vện
Nhóm MQL
Vằn : chỉ con chó , con vằn , con vện

3- Nhận xét :
Có sự khác nhau
xuế xoá- xú xứa -thú thứa
Tra AR
Trang 78 có chữ thú : thú , cầm thú , muông thú, ; thú , thói, thú làng, thú chợ,
thứa , khách thứa , khách khứa, người ngoài, người lạ, cùng một nghĩa
Theo tự điển Viện nghiên cứu Hán Nôm ,Trang 1110 có hai chữ thú , A1 là thú : loại động vật có vú bậc cao sống hoang dã , thú cũng A1 có nghĩa điều làm cho người ta vui trong thú thứa , xú xứa , xuế xoá : giản dị , đơn giản và có trích Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn .

4- Kết luận
Xin đọc là
Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn

Bài 2

Câu 1 bài 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Phiên âm từ Nôm ra quốc ngữ

Trần Văn Giáp Phạm Trọng ĐIềm 1956
Thương Chu bạn cũ các chư đôi
Đào Duy Anh 1976
Thương Chu bạn cũ các chưa đôi
Bùi Văn Nguyên 1994:
Thương Chu bạn cũ các chưa đôi
Vũ Văn Kính 1995 :
Thương Chu bạn cũ các chưa đôi
Nhóm Mai Quốc Liên 2000
Thương Chu bạn cũ gác chưa đôi
2- Chú Thích

TVG-PTĐ
Thương Chu : hai thời đại Trung Quốc cùng với hạ thông Thương gọi là Tam Vương , kế tiếp đời Đường Ngu , giai đoạn nguyên thuỷ chuyển sang nô lệ manh nha .
DDA :
Các chưa đôi : khó hiểu
Nguyễn Trãi gọi bạn cũ đời Thương Chu thì chỉ có thể là Y Doãn( Thương ) và Chu Công ( Chu ) , cũng như chính NT giúp dựng nghiệp nhà Lê , Y Doãn – Chu Công cả hai đều làm nên sự nghiệp rồi mà còn giữ quyền vị suốt đời chứ không như mình sau khi đã thành công ( thửa việc rôi ) lại phải lánh về để hưởng an nhàn cho nên tự xét mình chưa có thể tự cho mình chưa sánh được với bạn đời xưa . Vậy các chưa đôi nghĩa là đều là chưa sánh đôi với được.
bản B Đường Ngu bạn cũ lẫn chưa đôi . ( Chữ “các” và chữ ”lẫn “ dễ lộn với nhau ).
BVN :
Thương Chu , Chu thay thế Hạ, , đến Ân Thương, , có phần suy thoái , nhân đó nhà Chu đã xảo quyệt dùng vũ lực , lật đổ nhà Thương để giành ngôi công chủ .
Ở đây NT kín đáo nói nhà Minh đã lật đổ nhà Hồ để cướp nước ta .
Do đó bạn cũ của NT đời Hồ , lúc này có ngườI làm việc với nhà Minh , như ngày xưa bề tôi nhà Thương , có kẻ chạy theo nhà Chu . NT nói “ các chư đôi” là nói không thể theo bạn cũ , kiểu bợ đỡ giặc Minh, mà phải đi ẩn chớ thôi , đó là ý tiếp cận thửa đề câu thứ 2 .
MQQL :
Nhà Thương 1000-11000 TCN
Nhà Chu 11000-256 TCN ( Tây Chu 1100-771 TCN và Đông Chu 771-256 TCN
Gác chưa đôi : gác lại , chưa đôi co .
Nhóm MQL viết: TVG-PTĐ phiên là các chư đôi và chú “chưa hiểu rõ “ chỉ theo đúng nguyên văn phiên ra. ĐDA phiên là các chưa đôi và chú : “ chưa hiểu rõ “ , rồi cho là “đều chưa sánh đôi với được “ Bùi văn Nguyễn cũng phiên là các chưa đôi và hiểu là “ không thể theo bạn cũ , kiểu bợ đỡ giăc Minh , mà phải đi ở ẩn chớ thôi “.
Kiều Thu Hoạch ( tài liệu chép tay ) : các chư đôi , chư tiếng Hán là Các , chỉ là tiếng đệm , Các chư đôi là nói ‘ mỗi người mỗi nơi , chỉ bạn bạ đồng tâm đồng chí cùng .
P. Schneider đã phiên là Thương Chuyện cũ và đã liên hệ với bài 58 QÂTT . Sự liên hệ ấy sai.
VVK phiên “ các chưa và đã hiểu là “đều chưa nhiều , đôi là nhồi , đầy ( trang 10 )

3-Nhận xét :
Câu này có phiên âm khác nhau
các/gác
Chư /chưa
Và có cách giải thích khác nhau , Bùi Văn Nguyên suy luận Minh Hồ , người khác thì Y Doãn Chu Công .

4- Kết Luận
Câu 1 bài 2 nên phiên âm như sau
Thương chu bạn cũ các chư thôi

Câu 2 bài 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Phiên âm Nôm ra Quốc ngữ
Trần văn Giáp Phạm Trọng Điềm
Sá lánh thân nhàn thủa việc rôi
Đào Duy Anh
Sá lánh thân nhàn thuở việc rồi
Bùi Văn Nguyên
Sá lánh thân nhàn thuở việc rồi
Vũ Văn Kính
Xa lánh thân nhàn thuở việc rồi
Mai Quốc Liên
Xá lánh thân nhàn thuở vi ệc rồi

2- Chú thích :
Đào Duy Anh
Sá : Từ sá chúng tôi thấy thường dùng theo nhiều nghĩa ; khẳng định như sá lánh (đành nên lánh ); Phủ định : sá chi là chẳng kể chi , sá quản là chẳng quản , lại có nghĩa là vấn từ như câu 4 bài 32 ( nước non nguyệt hiện sá thôi chèo ).
Mai Quốc Liên :
Phiên âm khác VVK Xa lánh
Xá lánh : chữ xá có nghĩa là hãy , nên , phải , Tự điển Genibrei đã dịch là xá kíp hôì trào cho mau; xá giữ .
Rồi : rảnh rỗi , nghỉ ngơi . Ngày rỗi , rỗi tay , ăn nhưng ngồi rồi, Rỗi rảnh .
Câu này ý nói : Hãy lánh cho thân nhàn lúc đã rỗi rãi .

3- Nhận xét :
câu 2 b ài 2 :
chỉ có chữ 1 câu 2 bài 2 phiên âm có khác nhau
sá/xa/xá
Riêng Bùi Văn Nguyên không có chú thích gì .
Vũ Văn Kính thì phiên âm là xa lánh , còn tác giả khác đều phiên âm là :xá/ sá lánh Tra từ điển AR ( TK 17 ) trang 668 thì thấy sá , đi đàng sá , đi đàng đi sá ,
xá , phố xá , xá xét .
Tự điển chữ Nôm Viện NCHN trang 986 có :
sá C2 nên cần phải ( sá lánh thân nhàn thuở việc rồi NT )
Xá trang 1261 C2 nên cần phải , hãy ( cổ )( Có thân thì xá cốc chưng nhàn NT 14 a )

4- Kết luận
câu 2 bài 2 nên đọc là
Sá lánh thân nhân thủa việc rồi .

Câu 3 bài 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Phiên âm Nôm ra quốc ngữ :
TVG-PTĐ
Gội tục trà thường pha nước tuyết
ĐDA
Cởi tục chè thường pha nước tuyết
BVN : Cởi tục trà thường pha nước tuyết
VVK
Gội tục trà thường pha nước tuyết
MQL :
Cởi tục trà thường pha nước tuyết
2- Chú thích :
TVG-PTĐ
Gội tục : trút sạch tục luỵ , bụi trần .
ĐDA:
Cởi, ĐDA cho rằng chữ Nôm là cội ,chắc là viết lộn bộ “mộc “với “thủ” , đọc là cổi hay cởi .
BVN:
Cởi tục : cởi là trút bỏ .
MQL : chú thích TVG : Gội tục ; ĐDA cởi tục chè thường …
3- Nhận xét :
câu 3 bài 2 có một chữ phiên âm khác nhau
“Gội /”cởi”/cổi
Tra từ điển AR trang 297
Gội đầu,
Tự điển chữ Nôm Viện NCHN
Trang 206 –207 có 6 chữ “cởi “
C2 bộ cải ; F1 bộ khẩu + cải; F1 bộ thủ + cối : cởi (cổi);
F1 mịch + cối ; F1 bộ Y + cối .
Trang 448 : gội dùng nước giũ sạch tóc ,thấm đượm

4- Kết luận
Câu 3 bài 2 có lẽ đọc là
Cởi tục trà thường pha nước tuyết ./.

Câu 4 bài 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Phiêm âm Nôm ra quốc ngữ
TVG-PTĐ
Tầm thanh trong vắt tiễn trà mai
ĐDA
Tìm thanh trong vắt tịn chè mai
BVN :
Tầm thanh trong vắt tiễn chè mai
VVK
Tìm thanh trong vắt tạn chè mai

2- Chú thích :
TVG-PTĐ
Tầm thanh : Tìm nơi trong sạch , ý nói là trần thế
DDA
Tịn :
chữ này trong truyện Kiều , Hoa tiên ký phiên là tận .Nên phiên là “tịn”, tức là hết ( cũng như tận ) Ở nông thôn Thanh nghệ Tĩnh ngườI ta thường nói tịn (đến tịn nơi ) chứ không nói tận.Tịn chè mai tức là hết chè hồng mai cho nên phải uống nước tuyết , nhưng đó là muốn tìm cái thanh cao .
BVN :
Tầm thanh trong vắt tức rất trong , không có vẩn đục
Tiễn :chữ Hán nghĩa là thích hợp, thích ứng

3-Nhân xét :
Câu 4 bài 2 có sự phiên âm khác nhau
Chữ
tầm/ tìm
tiễn/tạn/tịn
Tra từ điển AR - Trang 720 - tận , hết , tận thế , hết thế,
Tra tự điển chữ Nôm Viện NCHN -Trang 1053-1054 có 2 chữ -Tầm : Tầm bằng 5 thước ta, , khoảng , lúc , độ , chừng ; tầm xuân loài cây , tầm phào ,Trang 1126 có 1 chữ tìm A2 ( HV tầm ) Cốt gắp cái đã mất hoặc hướng dẫn cái mong muốn ( Lều tiện Nhan Uyên tìm tới đỗ NT 21 b ).

4- Kết luận
Câu 4 bài 2 có lẽ đọc là Tầm thanh trong vắt tận chè mai - Câu 5 bài 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Phiên âm Nôm ra quốc ngữ
TVG-PTĐ
Chim kêu hoa nở ngày xuân tĩnh
ĐDA
Chim kêu hoa nở ngày xuân tĩnh
BVN
Chim kêu hoa nở ngày xuân tĩnh
VVK
Chim kêu hoa nở ngày xuân tĩnh
MQL
Chim kêu hoa nở ngày xuân tạnh

2-Chú thích :
Các tác giả đều không có chú thích câu 5 bài 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

3- Nhận xét:
Các tác giả đều phiên âm nôm ra quốc văn khá giống nhau
Chim kêu hoa nở ngày xuân tĩnh
Riêng MQL thì phiên âm là
Chim kêu hoa nở ngày xuân tạnh

Tra từ điển chữ Nôm Viện NCHN
Trang1047 có 2 chữ tạnh ( loại chữ C2 hv tịnh ) và A2 hv tình ( nhật + thanh ) , Nghĩa là dứt mưa , trời trong sáng ,
Trang 1127 có chữ tịnh ( cổ tĩnh ) A1 ( hv tịnh ) . Không thấy chữ tĩnh ( tinh + dẫu ngã );

4- Kết luận
Có lẽ bản MQL đọc là chính xác
Chim kêu hoa nở ngày xuân tạnh.

Câu 7 bài 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1-Chuyển Nôm ra quốc ngữ :
TVG-PTĐ
Vui có một niềm chăng nỡ trễ
ĐDA
Bui có một niềm chăng nỡ trễ
BVN
Bui có một niềm chăng nỡ trễ
VVK
Vui có một niềm chăng nỡ trễ
MQL
Bui có một niềm chăng nỡ trễ
2- Chú thích:
TVG-PTĐ
Chăng nỡ trễ : Không nỡ chểnh mảng trong lòng
DDA
Bui : Duy chỉ , chỉ có . Ngày xưa học duy là bui. Nguyễn Trãi hay dùng từ này . Chăng nỡ trể : Không nỡ trễ nải, chểnh mảng
MQL
Bui : Chỉ có , Bui là tiếng cổ dùng để dịch chữ Hán Duy ,Chăng nỡ trễ : không thể để trễ lâu hơn nữa được nghĩa là phải lo làm tròn ngay đạo làm con và đạo làm tôi .

3- Nhận xét :
Câu 7 bài 2 có chữ 1 câu 8 bài 2 phiên âm có khác nhau
Vui/bui
Tra từ điển chữ Nôm Viện NCHN trang 69 có chữ C2 Bui ( hv bôi) âm cổ của chữ Hán là Duy , chỉ có chỉ còn (Bui một tấc lòng ưu ái cũ NT 19 b );
Trang 12 52 có chữ C2 ( hv bôi) VUI : tâm trạng thích thú , phấn khởi
F1 Vui ( tâm + bôi ) nghĩa như trên .
F1 Vui ( khẩu + bôi ) nghĩa như trên ;
Tôi đã nhìn mặt chữ Nôm thì là có thể đọc bui hoặc vui.

4-Kết luận :
Câu 7 bài 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi có thể đọc là
Bui có một niềm chăng nỡ trễ ./.

Câu 8 bài 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Chuyển từ Nôm ra quốc ngữ
TVG-PTĐ
Đạo làm con mấy đạo làm tôi
ĐDA
Đạo làm con liễn đạo làm tôi
BVN
Đạo làm con lẫn đạo làm tôi
VVK
Đạo làm con mến đạo làm tôi
MQL
Đạo làm con lẫn đạo làm tôi

2-Chú thích :
ĐDA:
Chữ Nôm đọc là miễn /liễn.
VVK
Mến là kính mến , yêu mến
MQL
Chữ Nôm là miễn,ghi âm cổ mliễn và có thể đọc là liễn -lẫn như trong bài này. (và bài 12,24,48,64,69).

3- Nhận xét
Câu 8 bài 2 có m ột chữ phiên âm khác nhau
miễn/liễn/lẫn/mến
tra từ điển chữ Nôm Viện NCHN
trang 685 chữ miễn ( hv miễn ) : cốt , chỉ cần , , với cả, cùng , lẫn , (âm cổ - đạo làm con miễn đạo làm tôi NT 4b).

4- Kết luận :
Câu 8 bài 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi nên đọc là
Đạo làm con miễn đạo làm tôi.

Bài 3

Câu 1 bài 3 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Chuyển Nôm ra quốc ngữ
TVG-PTĐ
Lão thiếu chưa nên tiết trượng phu
ĐDA
Lểu thểu chưa nên tiết trượng phu
BVN :
Lểu thểu chưa nên tiết trượng phu
VVK
Lểu thểu chưa nên tiết trượng phu
MQL
Lảo thảo chưa nên tiết trượng phu
2-Chú thích :
TVG-PTĐ
Trượng phu : Người có tiết tháo , chỉ làm những việc gì hợp nghĩa ;dù nghèo hèn cũng không đổi lòng, giàu sang cũng không làm mê nổi, vũ lực cũng không thể khuất phục được ( Mạnh Tử ) ;
ĐDA
Lểu thểu : Chữ nôm là lão thiếu , chúng tôi cho rằng chữ này cũng là một với chữ liếu thiếu ở câu 4 bài 61 sau này( say lểu thểu đứng đường thông trang 416 ), phải phiên là lểu thểu – nghĩa là có vẻ xềnh xoàng lếch thếch , không trang trọng như kẻ trượng phu.
BVN
Lểu thểu : có nghĩa như thất thểu , tức chí chưa định . Bản B lại ghi là dẫu dãi ;Trượng phu : theo sách Mạnh Tử , kẻ trượng phu là người có chí khí cao , không ngại nghèo hèn , không tham giàu sang , không sợ uy vũ .
VVK :
bản a lão thiểu ;
MQL : câu 1 lão thiếu chưa nên ( TVG)
Lểu thểu ; ĐDA-VVK
Lảo thảo hãi chữ lão thiếu có thể phiên âm là lảo thảo . genibrei có từ lảo thảo . DNQÂTV có giải thích Lảo thảo là bộ sơ sài , không chú ý . Chữ thiếu ( thiếu , thiểu ) có thể phiên âm là thảo cũng như hiếu ( hiếu sắc) ,có thể đọc là háo sắc , kiểu thơm là cảo thơm , triều là trào , điều là đào.

3- Nhận xét :
Câu 1 bài 3 hai chữ đầu có sự phiên âm khác nhau :
Lão thiếu / lểu thểu / lảo thảo .
Tra từ điển AR trang 400 –401 có chữ lão , đức lão , , lão tai, lão lay;
Từ điển chữ Nôm Viện NCHN trang 574 có chữ Lão ( A1 hv lão : già , tuổi cao , tiếng xứng hoặc gọi người già ;
Trang 1092 có chữ thiếu ( A1 hv thiếu ,: ít không đủ mức cần thiết ;
Trang 604 có từ lểu ( hv liễu ) : trong lểu thểu ,dáng lảo đảo : Say lểu thểu đứng đường thông ( NT 23 a) ;
Trang 1069 có 2 chữ Thảo :
C1 hv thảo : viết , biên soạn, trong thảo nào , hèn chi chẳng trách ;
C1 hv thảo : hiếu thuận, viết chữ , biên soạn , trong thảo nào , chả trách , hèn chi.

5- Kết luận :
Câu 1 bài 3 có lẽ nên đọc
Lão thiếu chưa nên tiết trượng phu ./.
Câu 2 bài 3 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi
1-Chuyển Nôm ra
quốc ngữ
TVG- PT Đ
Miễn là phỏng dáng đạo tiên nho
ĐDA
Miễn là phỏng dạng đạo tiên nho
BVN
Miễn là phỏng dáng đạo tiên nho
VVK
Miễn là phóng dạng đạo tiên nho
MQL
Miễn là phỏng dạng đạo tiên nho

2-Chú thích
ĐDA
Phỏng dạng : phảng phất như , phưởng phất theo . Xem chú 6 bài 76 (: phỏng dạng : phưởng phất như là . Câu này có nghĩa là Tai thường phưởng phất nghe như có ai đọc câu thơ của Đỗ Phủ như sau: ( trang 733)
VVK
Phóng dạng , bản a phóng dáng
MQL câu 2… dáng đạo tiên nhu (ĐDA P.8)?

2- Nhận xét :
Có hai chữ phiên âm khác nhau :
phóng dạng / phỏng dạng
Tra từ điển Chữ Nôm Viện NCHN trang 892 có 3 chữ phóng
C1 hv phóng : áng chừng , hầu như ;
A2 hv phỏng : bắt chước theo , hoà theo, khoảng chừng , áng chừng , hẳn là , ví bằng , giả dụ
Trang 892 cũng có chữ Phóng A1 hv phóng : tung ra , buông ra .
Trang 235 có chữ dáng C2 hv dạng : dạng loại , hạng ( Quan cao nào đến dạng người này NT 46 b ) , hình thù , vẻ bề ngoài ,( tai thường phỏng dáng câu ai đọc NT 27 b ; Ở bầu thì dáng ắt nên tròn NT 50 a );
Trang 230 dáng A2 hv dạng : hình dạng, dạng vẻ , điệu bộ
Trang 230 có chữ
Dạng F1 ( nhân + dạng ) : hình bóng , dấu vết
Dạng A1 hv dạng : dáng vẻ , hình nét ( Chữ học ngày xưa quên hết dạng NT 29 b ).

3- Kết luận
Câu 2 bài 3 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi
có lẽ đọc là
Miễn là phỏng dạng đạo tiên nho

Câu 3 bài 3 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1-Chuyển Nôm ra Quốc ngữ :
TVG-PTĐ
Trà mai đêm nguyệt dậy xem bóng
ĐDA
Chè mai đêm nguyệt dậy xem bóng
BVN
Trà mai đêm nguyệt dậy xem bóng
VVK
Trà mai đêm nguyệt dậy xem bóng
MQL
Chè mai đêm nguyệt dậy xem bóng
2- Chú thích :
TVG-PTĐ
Trà mai : gỗ cây lão mai dùng làm trà pha nước uống, ngồi thưởng trăng
ĐDA
Chè mai :chè hồng mai
VVK : bản b chè
MQL
Chè mai; chè hồng mai, chè nấu bằng vỏ cây hồng mai .

3-Nhận xét :
Phiên âm chỉ khác nhau
trà/chè
Tra từ điển AR
Trang 100 thấy có chữ chè , , trang 101: chè , bình chè, bánh chè gươm, chè, nước chè ,
Tra tự điển chữ Nôm Viện NCHN
Trang 130 có chữ chè A1 : cây có búp non pha làm thức uống ( Cõi tục chè thường pha nước tuyết NT 4 b ) ;
Còn có nghĩa món ăn ngọt nấu bằng đường mật
Trong quýt chè : chích choè , tên một loại chim nhỏ hay hót;
C2 với nghĩa khác hv trà
Trang 1138 c ó chữ Trà
loại chữ A1 hoặc C1 hv trà .
Lá chè đã sao, qua chế biến để pha nước uống;
Loại cỏ có hoa trắng ;
Bừa, ào ( bất kể thiệt hơn )
Đơn vị cư dân ở nông thôn xưa
Còn có chữ trà C1 ( hv trà ) F1 ( bộ thủ + trà );
Còn có chữ F1 ( túc + trà ).

4-Kết Luận :
Câu 3 bài 3 có thể đọc như sau
Chè mai đêm nguyệt dậy xem bóng ./.

Câu 4 bài 3 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Chuyển Nôm ra quốc ngữ
TVG-PTĐ
Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu
ĐDA
Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu
BVN
Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu
VVK
Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu
MQL
Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu
2-Chú thích
TVG-PTĐ
Phiến sách hay phiên sách : chữ cổ , nghĩa cũng như quyển sách , pho sách. Sách cổ không chấm câu , khi nói chấm câu tức là học tập.
ĐDA
Phiến sách : quyển sách
MQL
Chấm câu : Sách chữ Hán xưa không có chấm câu , người đọc phải tự phân câu ( phân cú đoạn ) lấy .

3- Nhận xét :
4- Sự phiên âm hầu như nhất trí với nhau .
Riêng TVG-PTĐ có chú thêm Phiến sách hay phiên sách .
Tra AR trang 601 pho , một pho sách ,Tra từ điển chữ Nôm Viện NCHN trang 886 có chữ phên đúng mặt chữ Nôm câu 4 bài 3 ( hv phiến ) tấm đan bằng tre , nứa , lá để che quanh nhà .

5- Kết luận :
Câu 4 bài 3 có lẽ đọc là
Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu ./.

Câu 5 bài 3 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Chuyển Nôm sang quốc ngữ
TVG-PTĐ
Dưới công danh đeo khổ nhục
ĐDA
Dưới công danh đeo khổ nhục
BVN
Dưới công danh đeo khổ nhục
VVK
Dưới công danh đeo khổ nhục
MQL
Dưới công danh đeo khổ nhục

2- Chú thích
ĐDA
bản b : đeo hoạ dữ

3-Nhận xét : các bản đều phiên âm giống nhau .
4-Kết luận :
Xem mặt chữ Nôm , câu này có thể đoc như sau
Dưới công danh đeo khổ nhục

Câu 6 bài 3
1-Chuyển Nôm ra quốc ngữ
TVG-PTĐ
Trong dầy dãi có phong lưu
ĐDA
Trong dại dột có phong lưu
VVK
Trong dại dột có phong lưu
MQL
Trong dại dột có phong lưu
2- Chú thích :
ĐDA
Câu này nghĩa là trong cái dại dột của người ẩn dật vốn có phong lưu ở đấy .
BVN
Trong dại dột có phong lưu
VVK
bản a : dầy dãi
MQL : bản TVG ; dầy dãi .

3-Nhận xét :
Câu này có sự khác nhau ở
dầy dãi / dại dột
Tra từ điển AR
Trang 155 có từ dại , nên cuồng dại, dại dọt, dại gái , dại , con chó dại
Trang 178 có từ dột,, dại dột
Tra từ điển chữ Nôm Viện NCHN
Trang 232 có chữ dại C2 ( hv duệ ) : không khôn , ngây thơ, ngây ngô, điên , mắc bệnh điên , hoang dã , phên che ,
Có trích : “Trong dại dột có phong lưu” NT 4 b.
F1 ( khẩu + duệ ) : khờ khạo, ngây thơ,
F1 ( tâm + duệ ) nghĩa như trên ,
F1 ( nạch + duệ ) : không khôn , ngây thơ , hư nết , ngây , điên , mất hồn ,
F2 ( ngai + duệ ) nghĩa như trên .
Trang 279 có chữ dột ( ( hv đột ) , trong dại dột , nước mưa thấm qua mái nhà ;
F1 ( Thuỷ + đột ) : Nước thấm qua mái nhà , buồn rầu ủ đột ;F1 ( tân + đột : Buồn bã , sầu não .
C2 ( hv duyệt ) có trích “Trong dại dột có phong lưu “ NT 4b ;

4- Kết luận :
Câu 6 bài 3 có lẽ nên đọc là
Trong dại dột có phong lưu ./.

Câu 7+8 bài 3 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1-Chuyển từ Nôm ra quốc ngữ :
TVG-PTĐ
Mấy người ngày nọ thi đỗ
Lá ngô đồng thủa mạt thu
ĐDA
Mấy người ngày nọ thi đỗ
Lá ngô đồng thuở mạt thu
BVN
Mấy người ngày nọ thi đỗ
Lá ngô đồng thủa mạt thu
VVK
Mấy người ngày nọ thi đỗ
Lá ngô đồng thuở mạt thu
MQL
Mấy người ngày nọ thi đỗ
Lá ngô đồng thuở mạt thu

2-Chú thích
TVG-PTĐ
Mấy người ngày nọ thi đỗ : Những người thi đỗ thái học sinh , tức là tiến sỹ cùng một khoa với tác giả , Ức Trai tiên sinh đỗ khoa thái học sinh năm Thành Nguyên thức nhất ( 1400 ) . Khoa ấy tất cả 30 người trúng cử .
Ngô đồng : Một thứ cây cứ đến mùa thu thì lá rụng . Mạt thu : Cuối mùa thu , lúc đó là ngô đồng rụng gần hết lá , chỉ còn lơ thơ , ý câu này là nói lúc tác giả làm bài thơ này, các bạn đồng khoa đã chết gần hết.
ĐDA
Thi đỗ : Có lẽ ở đây là nhắc những người cùng thi đỗ Thái học sinh với Nguyễn Trãi trong khoa thi năm Thành nguyên thứ 1 ( 1400) , khoá ấy có 30 người .
Cuối mùa thu lá ngô đồng đã rụng gần hết , chỉ về thưa thớt , người người đã chết .
BVN
Mấy người …thi đỗ :Nguyễn Trãi nói đến những người đồng khoa năm Canh Thìn (1400 thời Hồ Quý Ly , như Nguyễn Hành người cùng họ , Lý Tử Tấn người cùng huyện Thượng Phúc ( trấn Sơn tây ) đều cùng với Nguyễn Trãi theo khởi nghĩa Lam Sơn còn Vũ Mộng Nguyên , Bùi Ưng Dầu thì đi ẩn , mãi về sau mới theo.
Ngô đồng : Cũng gọi là cây vông , thuộc họ thầu dầu , hoa đỏ , cuối mùa tHáng đông thì rụng lá . Đây nói , bạn cũ cũng tan tác hết rồi . Không nhầm với một loại ngô đồng khác thân to, gỗ nhẹ , dùng làm đàn .
MQL :
Mạt thu : cuối thu, tiết cuối thu .
3-Nhận xét :
Câu 7-8 bài 3 chỉ có khác nhau
thủa /thuở
4-Kết luận
Câu 7-8 bài 3 có lẽ đọc là
Mấy người bạn cũ thi đỗ
Lá ngô đồng thủa mạt thu ..

Bài 4 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Phiên âm :
TVG-PTĐ
Am trúc hiên mai ngày tháng qua
Thị phi nào đến cõi yên hà
Bữa ăn dù (BVN -VVK dầu) có dưa muối
Áo mặc nài chi gấm là
Nước dưỡng cho thanh trì( BVN- MQL đìa ) thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải luống (ĐDA -BVN lảnh) ương hoa
Trong khi hứng động bề(ĐDA- BVN –VVK vừa ) đêm tuyết
Ngâm được câu thần dửng dửng( BVN –VVK dặng dặng MQL dắng dắng ) ca.

2-Chú thích :
TVG-PTĐ :
Yên hà : khói mây . Nói nơi sơn thuỷ chốn thôn quê tĩnh mịch mà các cao sĩ thủa xưa tìm đến ở ẩn , ngâm gió vịnh trăng.
Gấm là : Cũng như gấm vóc .Là , là một thứ the mỏng, là lượt.
Nài chi : cần gì
Trì: ao (âm hv ) tiếng cổ hay dùng ;
Ngõ: ngõ hầu , nghĩa là dễ dã ;
Câu thần: Dịch chữ ‘ thần cũ “ là câu thơ hay lắm , như có thần giúp sức .
ĐDA:
Nước dưỡng : Nghĩa là giữ nước ao cho trong để bóng trăng chiếu xuống cho đẹp mà thưởng ngoạn.
Ngõ ải : Ngõ hầu cho đất ải ra
Dặng dặng ca :dặng tiếng mà ngâm mà ca.
BVN
Thị phi : phải trái .
Yên hà :khói lam chiều , ráng mây đỏ , chỉ nơi ẩn sĩ lánh đời.
Nước ở dưỡng: Nước được giữ gìn.
Đìa : chữ Nôm nghĩa là ao .
Đất cày … : cày rồi để cho ải , tức cho hấp thụ khí trời nắng mưa , sau đó mới trồng trọt.
Dặng dặng ca : hoặc dặng dõi , : văng vẳng , tiếng đàn hát vang dội.
VVK rảnh đọc là lảnh cũng được.
MQL :
thị phi : điều phải và điều trái.
Yên hà : khói và ráng . Cõi yên hà chỉ Nơi ở ẩn có ảnh đẹp.
Nài chi: cần chi, cần gì .
Là : the mỏng.
Nước dưỡng cho thanh: trữ dưỡng , chứa lấy ,. Nước chứa trong lu trong vại để cho trong.
Đìa ; ao, vũng.
Ải : gần mục nát.
Ngõ ải : gần được ải.
Luống đọc bài 4-10-68.
Vừa : bề , vừa. . Ý nói hứng thơ đến thì vừa gặp tuyết xuống trong đêm .
Câu thần : câu thơ hay ( thần cú)
dắng dắng : cất tiếng , lên cao giọng
dắng dắng ca : Ý nói ngâm hoài không thôi trong một hồi lâu.

3-Nhận xét :
Phần phiên âm có một số từ khác sau , ví dụ
ĐDA :
Chữ 5 câu 6 phiên âm là “ lảnh”
Chữ 5 câu 7 ‘ vừa “
Chữ 5-6 câu 8 “ dặng dặng “.

1- Kết luận:
Bài 4 có lẽ nên đọc là :

Am trúc hiên mai ngày tháng qua
Thị phi nào đến cõi yên hà
Bữa ăn dầu có dưa muối
Áo mặc nài chi gấm là
Nước dưỡng cho thanh trì thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải luống ương hoa
Trong khi hứng động vừa đêm tuyết
Ngâm được câu thần dắng dắng ca.

Bài 5 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Chuyển Nôm ra quốc ngữ
TVG-PTĐ
Giũ bao nhiêu bụi bụi lầm
Dơ(ĐDA –BVN –VVK -MQL giơ ) tay áo đến tùng lâm
Rừng nhiều cây rợp hoa chảy động
Đường ít người đi cỏ kíp( gấp ) xâm
Thơ đái(ĐDA dưới , MQL đới ) ) tục hiềm câu đái(ĐDA dưới ) tục
Chủ vô tâm ý (ĐDA ấy ) khách vô tâm
Trúc thông hiên vắng trong khi ấy
Năng mỗ (ĐDA mấy ) sơn tăng làm bạn ngâm

2- Chú thích :
TVG-PT Đ
Tùng lâm :Rừng rậm, để chỉ nơi tu hành đạo Phật .
Đái tục: Đái : đeo , mang theo; tục :thông thường , không cầu kỳ . Ý nói bài thơ là đầu bài thông thường , nên câu thơ cũng mang theo những giọng thông thường , thông tục.
Vô tâm : khoáng đạt ,không để ý đến danh lợi.
Ỷ : nương tựa , ký thác .
Khách : Trỏ vào hoa quả ở hai câu trên
Năng : Quen biết , và đồng ý với nhau.
Mỗ : tiếng chỉ trống không , sơn tăng nào đó .
Sơn tăng : nhà sư tu ở nơi chùa gần rừng núi xa thị thành .
ĐDA
Tùng lâm: rừng tùng, (nơi tăng đồ ở, nhưng không phải nghĩa ở đây ).
Hoa chầy động:Rừng nhiều cây rợp che nắng gió cho nên hoa có bị nắng gió đụng đến thì cũng chậm ( chầy ) hơn ở nơi khác.
Thơ dưới tục: Thơ mang nềm tục cho nên sợ rằng thơ của mình có những câu tục.
Chủ vô tâm: chỉ mình là người không để tâm đến danh lợi nữa.
Khách vô tâm: chỉ cảnh vật ở ngoài mình . Mình vô tâm cho nên thấy cảnh vật cũng vô tâm.
BVN Tùng lâm: rừng rậm , Xưa Côn Sơn đến núi Phượng Hoàng là khu rừng rậm; Tùng Lâm còn có nghĩa là nơi tu Phật .
Đái tục : mang nặng mùi trần tục .
Vô tâm … có nghĩa như hư tâm theo triết lý nhà Phật, tức thoát cảnh danh lợi ở đời .
Năng mỗ sơn tăng …
Năng hay biết, mỗ là ta , sơn tăng là thầy chùa nói chung có khi chưa đạt danh hiệu hoà thượng .
Mỗ : ĐDA dịch là mấy .
MQL :
Tùng lâm : rừng tùng, ( thông ) ở Côn Sơn , nơi Nguyễn Trãi về ở ẩn .
Chầy động : Chậm , muộn
Đới : đeo , mang theo .
Đới tục : mang tính cách thông tục , không có ý tứ cao siêu.
ỷ đối vớ hiềm .
Năng mỗ sơn tăng : có thể gặp được vị sơn tăng nào ( làm bạn ngâm thơ).

3- Nhận xét :
Phiên âm các bản chỉ khác nhau chữ : dơ- giơ và mỗ /mấy.

4- Kết luận :
Bài 5 có lẽ nên đọc như sau :

Giũ bao nhiêu bụi bụi lầm
Giơ tay áo đến tùng lâm
Rừng nhiều cây rợp hoa chảy động
Đường ít người đi cỏ kíp xâm
Thơ đới tục hiềm câu đới tục
Chủ vô tâm ấy khách vô tâm
Trúc thông hiên vắng trong khi ấy
Năng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm

Bài số 6 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1-Chuyển Nôm ra quốc ngữ:
TVG-PTĐ
Làm người chẳng có đức cùng tài
Đi nghỉ (ĐDA so nghĩ )đều thì kém hết hai
Hiểm hóc cửa quyền chăng lọt lẩn (ĐDA lọt lẫn ) ( BVN dụt lặn) ( VVK lọt lấn ) (MQL đụt lặn )
Thanh nhàn án sách hãy đeo đai
Dễ hay ruột biển (ĐDA –VVK- MQL bể ) sâu cạn
Khôn biết lòng người ngắn (ĐDA -VVK vắn) dài
Sự thế dữ lành ai hỏi đến
Bảo rằng ông đã điếc hai tai

1-Chú thích:
TVG-PTĐ
Đi nghỉ: Hành ,chỉ : Hành ra làm quan giúp việc đời , chỉ ở nhà ẩn dật không ra làm quan .
Cửa quyền: Tức quyền môn , nơi có thế lực uy quyền .
Lọt lẩn: Luồn lọt, lẩn lút , lẩn quất .
Dễ hay : nào ai bết được
Khôn : khó lòng ( xem bài 1).
ĐDA
So Nghĩ : Bản a chép là: đi nghỉ , Bản b so nghĩ . Vốn chữ So bản A đã lầm thành chữ Đi , vì hai chữ ấy tự dạng rất gần nhau.
Xét nghĩa thì nếu là Đi Nghỉ mà giải là Hành Chỉ thì câu ấy có nghĩa là Nguyễn Trãi cho rằng mình đã vụng đi ( ra làm quan ) mà lại vụng cả nghỉ ( về ẩn ). Nhưng thực ra thì nếu có cho mình là kém vụng thì kém vụng đi là phải , chứ không kém vụng về nghỉ được, cho nên nếu hiểu Đi Nghỉ ( tức là hành chỉ thì nghĩa câu ấy chưa ổn , mà xem kết cấu của bài thơ thì câu ấy lại chẳng dính dáng gì với ý nghĩa của câu trên . Nhưng nếu là So Nghĩ thì nghĩa cả hai câu 1 và 2 rõ ràng và ăn khớp nhau lắm. Nguyễn Trãi cho rằng về đạo làm người thì mình chẳng có đức cũng chẳng có tài, so với thiên hạ thì nghĩ về cả hai mặt ấy ( tài và đức ) mình đều kém cả.
Lọt lẫn: Chữ Nôm là đột phiên là lọt . Lọt có khi viết như giọt, đột đọc theo âm l và âm gi.
Đeo đai: đeo đẳng .
BVN :
Đi nghỉ : dịch chữ hành và chỉ .Hành : đi và làm . Nghỉ ( chỉ ) hay ẩn ( tàng ) . ở đây Nguyễn Trãi nói khiêm tốn : đức tài đều kém , đồng thời có tâm sự về bọn cơ hội “ giá áo túi cơm “ , chúng gây nhiễu khiến vua không phân biệt được ai giỏi , ai kém .
Đụt lặn : náu trốn ,núp trốn , ẩn náu.
MQL :
Chữ 1-2 câu 2 : ĐDA : so nghỉ ;
Đi nghỉ : hành chỉ ; Hành : ra làm quan , giúp việc đời , chỉ : ở nhà , ẩn dật không ra làm quan ( TVG ) . ĐDA : so nghĩ .
Nhưng nếu như vậy thế thì câu thơ lặp lại ý và cả hai câu chỉ nói về kém đức tài . Ở đây là nói: đức tài hành chỉ , 4 điều ấy hoặc chẳng có , hoặc đều kém ( hành : xuất ) cũng kém mà chỉ (ẩn : tàng ) cũng kém . đây là một cách nói , bề ngoài thì khiêm nhường theo lối nhà nho , nhưng cũng chan bi phẫn . Xem các câu tiếp theo thì thấy rõ mạch văn nhất quán, và bài thơ “ nhất khí quán hạ “ , sự từ chối cửa quyền , sự kiên trì bản lĩnh , sự chua xót về thế sự , nhân tâm, và cuối cùng : quyết liệt dữ dội không cần nghe không cần biết ( vì đã quá biết rồi ).
Dụt lặn: TVG- ĐDA-BVN lọt lẫn , luồn lọt, lẩn lút , lẩn quất . bản góp ý của Kiều Thu Hoạch cho Bùi Văn Nguyên viết : “ không thể phiên lọt lẫn (ân Hán (đột lận ) cần phiên âm đúng là đụt lặn , nghĩa là núp trốn , ẩn trốn , nếu nói hình ượng là ngụp lặn hoặc từ điển Việt Pháp đều có giải thích đụt , người miền nam nói đụt mưa . Nói về mặt trời mọc lặn chữ Nôm thường viết.Chúng tôi tán thành phiên đụt lặn , Nghĩa cả câu chẳng ngụp lặn vào chốn cửa quyền hiểm hóc “.

3-Nhận xét :
Câu hai bài 6 có hai chữ phiên âm còn khác nhau
Đi nghỉ / so nghĩ
Nhìn mặt chữ Nôm thì là Đi nghỉ
Và Chữ 6-7 câu 3 có sự khác nhau khi phiên âm hai chữ
đột lận thành
Dụt lặn/lọt lẫn / luồn lọt/ lẩn lút/ lẩn quất.
Tra từ điển chứ Nôm trang 364 có chữ đột A1 hv đột : xông vào, dấn vào; khâu từng mũi chỉ; tên một loại bánh nhân đường ,
Trang 589 có chữ lận A1 hc lận: gian dối , lừa gạt; trong lận đận vất vả chật vật trắc trở trong cuộc sống .

4-Kết luận :
Bài 6 /254 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi có thể đọc như sau :

Làm người chẳng có đức cùng tài
Đi nghỉ đều thì kém hết hai
Hiểm hóc cửa quyền chăng đột lận
Thanh nhàn án sách hãy đeo đai
Dễ hay ruột biển sâu cạn
Khôn biết lòng người ngắn dài
Sự thế dữ lành ai hỏi đến
Bảo rằng ông đã điếc hai tai

Bài 7 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1-Chuyển từ Nôm ra quốc ngữ
TVG-PTĐ
Trường ốc ba thu uổng mỗ (ĐDA mấy ) danh
Chẳng tài đâu xứng chức tiên sinh
Cuốc cùn (ĐDA cằn ) ( BVN Cuốc cày ) ước thảo (ĐDA- VVK –MQL xáo ) vườn chu tử
Thuyền mọn khôn đua biển ( VVK- MQL bể ) lục kinh
Án sách cây đèn hai bạn cũ
Song mai hiên trúc một lòng thanh
Lại mừng nguyên khí vừa thịnh
Còn cạy (ĐDA- BVN cậy ) vì hay một chữ đinh

2-Chú thích :
TVG-PTĐ
Trường ốc: nơi thi cử Ba thu :xưa kia ba thu một khoa thi.
Chức tiên sinh: địa vị ông thày dạy học.
ước tháo :Tháo tiếng cổ là chữ xáo là xáo trộn , xào đất . Muốn xáo .
Chu tử: Các sách “ Bách gia chu tử “ , sách của Lão tử, Mạnh tử, Tuân tử , Quản tử…
Khôn đua:khó lòng theo đòi.
Biển lục kinh: các sách học cổ điển rộng như biển.Thi ,thư ,lễ , nhạc, dịch , xuân thu .
Song mai hiên trúc : nơi ngồI học tập , tu dưỡng .
Nguyên khí theo truyện Liễu Công Xước trong Cựu Đường Thư , nguyên khí là tinh khí , sức khoẻ của người ta ( Tứ Hải trang 132 ).
Chữ đinh: Gốc ở “ bất thức đinh “ = không biết một chữ nào … “ Vì hay một chữ đinh “ nghĩa là biết chữ.
ĐDA
Bài này có lẽ là làm sau khi hỏng thi , một khoa đầu ở cuối thời Trần , bấy giờ Nguyễn Trãi chưa đến 20 tuổi.
Trường ốc :chỗ trường thi .
Ba thu : Chế độ khoa cử nước ta đến năm Quang Thuận thứ 4 đời Lê Thánh tôn mới định lệ 3 năm một khoa thi , đời Trần và Hồ thì khoa thi chưa có định hạn . Nhưng chế độ khoa cử của TQ thì từ đờI nhà Minh đã đặt lệ 3 năm một khoa , năm trước thi hương , năm sau thi hội ,cho nên vì thế mà các nhà nho nước ta trước đời Lê Thánh Tôn cũng nhân đó mà nói “trường ốc ba thu”.
Câu 7 : Câu này phải chăng có ý nói rằng với những cải cách của Hồ Quý Ly nguyên khí của nước nhà , tức vận nước , đã được thịnh trở lại.
MQL : nhất trí với ước thuyết của ĐDA .

3-Nhận xét:
Cách giải thích của ĐDA có lý.
MQL : nhất trí với ước thuyết của ĐDA .
và MQL đưa ra cách dịch nghĩa tại trang 652 Nguyễn Trãi tân biên năm 2000 có lẽ là đúng ý bài thơ này .

4-Kết luận :
Bài 7 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi có lẽ nên đọc như sau:

Trường ốc ba thu uổng mỗ danh
Chẳng tài đâu xứng chức tiên sinh
Cuốc cùn ước xáo vườn chu tử
Thuyền mọn khôn đua biển lục kinh
Án sách cây đèn hai bạn cũ
Song mai hiên trúc một lòng thanh
Lại mừng nguyên khí vừa thịnh
Còn cậy vì hay một chữ đinh./.

Bài 8 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1-Chuyển từ Nôm ra quốc ngữ:
TVG-PTĐ
Đã mấy thu nay để lề (VVK lệ) nhà
Duyên nào đeo đẳng khó chẳng tha
Một thân lẩn lẩn quất đường khoa mục
Hai chữ mơ màng việc quốc gia
Tài liệt (Đ DA-MQL lẹt ) ( VVK lợt ) lại nhiều nên kém bạn
Người còn (ĐDA -BVN-VVK –MQL mòn) mỏi hết phúc còn ta
Quân thân chưa báo( VVK bác) lòng canh cánh
Tình phụ cơm trời áo cha

2-Chú thích :
TVG-PTĐ
Lệ nhà: lề thói nhà, nề nếp nhà.
Khoa mục; khoa thi cử, đõ cử nhân , tiến sỹ v.v… nói chung Quốc gia : quốc và gia .
liệt lạt; kém cỏi.
Quân thân : vua và bố mẹ .
Tình phụ : bội bạc với ơn đã chịu.
ĐDA
Để lệ nhà : để lệ nhà mình ở đấy , tức là bỏ lệ nhà , tức thói nhà ( xem câu 6 bài 48 Nhân tử ta xem ngặt ấy lề, trang 412 Nguyễn Trãi toàn tập). Câu 6 bài 118.Ngòi nguyệt ngàn mai phụ lệ nhà, trang 435 NTTT ) .thì thấy lệ nhà của Nguyễn Trãi từ ông ngoại là Trần Nguyên Đán là vui thú ở nơi núi khe mây khói chứ không phải là đeo đuổi công danh ở chỗ phồn hoa.
Câu 2: tuy gặp khó khăn , nhưng duyên phận bắt cứ đeo đẳng mãi con đường ấy mà không buôn tha .

Câu 3 -Cứ câu này thì chắc chắn là bài này cũng như bài trên là làm trong khoảng chưa thi đỗ.
lẹt lạt : ý nói tài lẹt đẹt .

Câu 6 Câu này có ý cảm khái là trong khoảng giao thời bấy giờ trong số người quen biết với mình có nhiều người đã chết, may mình còn sống.
Quân thân ; vua và cha.
BVN
Lẩn quất : l ẩn tránh đâu đó . Nguyễn Trãi chuẩn bị đi thi, thì nhà Hồ lên ,nên lúc đầu do dự không muốn thi. Bài thơ này nói tâm sự đó, trước khoa Canh Thìn 1409 ) đã nói ở trên.
Liệt lạt: kém cỏi, ý nói khiêm .
Quân thân: quân là va, thân tức là song thân là cha mẹ .
Cơm trời : tức cơm vua , vì vua thay trời trị dân , cơm trời áo cha nói lòng trung hiếu .
MQL
Lệ nhà: lề thói nhà
Khó: khó khăn ,khó chăng tha : khó khăn không tha. Cả câu ý nói: vì duyên số , định mệnh đeo đẳng nên khó khăn không buông tha mình .
Lẩn quất: Lẩn khuất - một thân mình lẩn khuất trên con đường thi cử. Nghĩa là có lẽ thi chưa đỗ (tiếp ý của đeo đẳng , khó… nên chưa có danh vị , còn phải lẩn khuất .
Hai chữ : ở đây là trung hiếu hoặc quân thân ( vua cha) như câu dưới .
Lẹt lạt : kém cỏi ( theo cách phiên âm của ĐDA ) Chữ liệt phiên âm là lẹt đúng cả âm lẫn nghĩa.
Tình phụ : phụ tình, bội bạc.

3-Nhận xét:
Phần phiên âm chỉ có khác chữ
liệt/lẹt
báo / bác
còn/mòn .
Phần chú thích cũng khá thống nhất với nhau.

4-Kết luận
Bài 8 có thể đọc như sau :

Đã mấy thu nay để lệ nhà
Duyên nào đeo đẳng khó chẳng tha
Một thân lẩn quất đường khoa mục
Hai chữ mơ màng việc quốc gia
Tài liệt lạt nhiều nên kém bạn
Người mòn mỏi hết phúc còn ta
Quân thân chưa báo lòng canh cánh
Tình phụ cơm trời áo cha./.

Bài 8 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Chuyển Nôm ra quốc ngữ
TVG-PTĐ

Túi thơ bầu rượu quản tình suông (ĐDA -VVK xình xoàng)
Quẩy dụng (ĐDA khoẻ dụng) đầm hâm may (ĐDA mấy) dặm đường
Đài Tử Lăng cao thu mắt (ĐDA- BVN – VVK- MQL thu mát)
Bè Trương Khiên nhẹ khách sang
Tằm ôm (ĐDA ươm) lúc nhúc thuyền đầu bãi
Hào (ĐDA-BVN –MQL hầu ) chất so le khóm cuối làng
Ngâm sách thằng chài trong thủa (ĐDA – BVN thuở) ấy
Tiếng trào dậy khắp Thương Lang

2-Chú thích:
TVG-PTĐ
Đầm hâm : phấn khởi vui vẻ
Tử Lăng : Tên tự Nghiêm Trang – là bạn học thuở trẻ của Hán Quang Vũ. Khi Quang Vũ lên làm vua thì Nghiêm đổi tên họ , đổi tên , trốn đi ở ẩn . Mãi sau Quang Vũ nghĩ Nghiêm là người bạn hiền , biết người biết của , mới phong cho làm quan . Nhưng Nghiêm không ra , về ẩn ở miền núi Phú xuân , cày ruộng câu cá , sống trọn một đời . Thế cho nên , người sau gọi chỗ Nghiêm ẩn ấy là Tử Lăng đài . Tử lăng điếu đài : chỗ câu cá của Tử Lăng ( Theo Hán Thư ) .Trương Khiên : một nhà thám hiểm có tiếngdưới đời Hán Võ đế ( 140-134) trước công nguyên . đầu tiên Trương Khiên tình nguyện sang sứ nước Nhục Chi , đi qua Hung Nô ,Trương bị bắt giữ lại , ở đấy hơn 10 năm . Sau Trương trốn về được , lại đưa Vệ Thanh đi đánh Hung Nô . Sau đó Trương đi khắp các nước ở miền tây bắc TQ, tức là Hoa Bắc và Tiểu á tế á.
Ngâm sách: ngâm dây thừng chài lưới
Tiếng trào :tiếng sóng nước trào dâng lên.
Thương lang : tên một con sông ở Hoa đông . Khi xưa Khổng Tử Thương đi qua đó , cho nước sông ấy là trong sạch , nên hay tắm giặt ở đấy .Người sau dùng tiếng Thương Lang để tỏ ý gội rửa ở nơi trong sạch .
ĐDA :
Quán xình xoàng : Chẳng quản gì là xềnh xoàng
Khoẻ dụng : Dùng khoẻ
Đầm hầm : ấm áp .
( câu 1bài 240 Nào hoa chẳng bén khí đầm hâm).
Đài Tử Lăng :
Nghiêm Quang ( Nghiêm Tử Lăng) là bạn học của Lưu Tú ( Hán Quang Đế ) . Nơi Nghiêm đi câu cá khi ở ẩn gọi là Đài Tử Lăng .
Bè Trương Khiên : Chỉ cái bè của người đi phiêu lưu giang hồ Khách sang : Có lẽ nghĩa là ngươì sang , hiền quý , chỉ Trương Khiên hai lần phiêu lưu đi sứ các nước miền Tây Bắc , đều được phong tước cao.
Thuyền ở đầu bãi đậu nhiều như tằm ươm lúc nhúc.
Những khóm nhà ở cuối làng bố trí so le không đều như đống vỏ hầu lộn xộn.
Ngâm sách thằng chài :
Thằng chài là người làng chài , người đánh cá , tức là ‘ ngư phủ “ .Tức là ngân bài : “ Ngư phủ “của Khuất Nguyên. cả câu nghĩa là Trong khi ( trong thuở ấy) ngâm bài “ Ngư phủ “ của Khuất Nguyên .
“ chào “ ; là tiếng hát chào lộng ( tiếng chào )của ông chài vang lên cả mặt sông Thương lang .
Thương lang : ở xa biển không thể có nước thuỷ triều được , nên chữ “ chào “không thể nào hiểu là thuỷ triều như có người hiểu thế.
BVN
Quấy dụng đầm hâm :
:Quẩy: ngoắc vào cái cán tre hay gỗ , rồi vác lên vai ., dụng là đưa xuống dùng .đầm hầm tỏ vẻ vui vẻ hồn nhiên.
Đài Tử Lăng: Tử lăng câu cá lúc ở ẩn trên một chỏm đá .
Bè Trương Khiên: Nói cuộc đờI phiêu bạt của Trương Khiên .
Hầu : sò ( sò hến ).
Sách ; nghĩa đen là cái dây , ở đây là dây chào te lướI người đi chài , nghĩa bóng là phương hướng . . Ở đây Nguyễn Trãi chỉ nói thằng chài bình thường, nhưng suy rộng ra thì Tử Lăng cũng là một kiểu thằng chài , một kiểu Ngư phủ trong bài đồng dao Thương lang .
Tiếng trào: tuy về mặt chữ Nôm , chữ trào bộ khẩu là trào lộng chế giễu, không phải bộ thuỷ là nước trào lên , nhưng tiếng trào , tiếng Việt vẫn có hai nghĩa : trào ra và chế giễu.
Thương lang: Theo Khang Hy hay Từ nguyên thì đây chỉ sông Hán ( Sở ) quê Khuất Nguyên ( bài ca dân gian Ngư Phủ ) .
MQL
Quản tình suông; Xem mặt chữ Nom ở bản Nôm, viết rõ quản tình … mặc dù đọc xềnh xoàng có vẻ nôm hơn .Quản : chẳng quản , chẳng quản cái tình suông
Quảy : mang ,gánh.
đầm hâm : ấm áp , vui , nhẹ nhàng , êm…
Tử Lăng: Nơi câu cá của Tử Lăng.
Bè Trương Khiên: Thơ Đõ PHủ có câu ; Thừa sà đoạn tin tức – hà xứ minhTrương Khiên : Cỡi bè không tin tức - Biết đâu tìm Trương Khiên ).
Khách sang: khách sang trọng.
Tằm ươm: ươm tằm ươm kén .
Ngâm sách: ngẫm nghĩ ý nghía bài “ Ngư phủ của Khuất Nguyên( KTH ) . hoặc ngâm sách thằng chài tức là ngâm bài Ngư Phủ (ĐDA ) ;
Trào: Vậy có lẽ không nên nệ mặt chữmà hiểu như TVG. Hiểu là trào lộng ở đây không thông văn mạch .
Thương lang:xem trong bài Ngư Phủ ( Nước Thương lang trong a , có thể giặt giải mũ của ta, Nước Thương lang đục ư , có thể rửa chân ta ) .
Nên hiểu Trào câu trên là trào lộng.

3-Nhận xét :
Rõ ràng cách hiểu khá khác nhau
thu mắt/ thu mát
ngâm sách.
trào
Chữ 5-6 Câu 3 đọc là thu mát : vì có bộ chấm thuỷ
Câu 7 Ngâm sách : ngâm có bộ khẩu , chắc là ngâm “ Ngư phủ “ của Khuất Nguyên
Câu 8 chữ “trào” có bộ khẩu: chắc là trào lộng .

4-Kết Luận :
Bài 9/254 Q ÂTT Nôm Nguyễn Trãi có l ẽ đọc như sau

Túi thơ bầu rượu quản xình xoàng
Quẩy dụng đầm hâm mấy dặm đường
Đài Tử Lăng cao thu mát
Bè Trương Khiên nhẹ khách sang
Tằm ươm lúc nhúc thuyền đầu bãi
Hào chất so le khóm cuối làng
Ngâm sách thằng chài trong thủa thuở ấy
Tiếng trào dậy khắp Thương Lang

Bài 9/254 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Chuyển Nôm ra quốc ngữ

TVG-PTĐ
Sang cùng khó bởi chưng giời ( BVN -VVK –MQL trời)
Lăn lóc (ĐDA - BVN - VVK –MQL lặn mọc ) làm chi cho nhọc hơi
Tả lòng thanh vị (VVK mùi ) núc nác
Vun đất ải luống (ĐDA -BVN lảnh) mùng tơi
Liêm cần thiết (ĐDA -BVN- VVK MQL tiết) cả tua hằng nắm
Trung hiếu niềm xưa mã(ĐDA - BVN -VVK- MQL mựa ) nỡ rời (ĐDA đời )
Con cháu chớ (VVK mựa ) hiềm song viết (ĐDA sớm tối - BVN suông nhật - VVK suông nhạt ) ngặt
Thi thư thực ấy báu ngàn đời

2-Chú thích:
TVG-PTĐ
Khó : nghèo khó
Lăn lóc: cày cọc, đeo đuổi
Náo nác: cây núc nác có quả bẹt và dài , ta thường nước ăn tuyên truyền để giải nhiệt tức là “ tả lòng thanh “ trong câu thơ .
Tua nên, tua hằng nắm : nên thường giữ là thường chăm chú.
Thi thư: riêng từng chữ là kinh thi kinh thư , hai bộ sách trong lục kinh , nhưng liền nhau thi thư là nói chung về các kinh truyện, sách vở học tập…
ĐDA
lặn mọc : lặn mọc : thăngg trầm ; Theo ý câu mà giải nghĩa thì lặn m ọc ngh ĩa nh ư c ạy c ục .
Tả nghĩa là làm cho lạt đi , cho bớt tác dụng, cũng nói là giã , như giã thuốc . CPN : Nước có chảy mà phiền chẳng tả
Vị núc nác Vị thuốc “ tả can hoả “ý ấy hợp với mấy chữ trên là ‘ tả long thanh “.
Lảnh :rảnh, luống mồng tơi .
Tua : Từ xưa nghĩa là nên, âm xưa : tu .
Mựa : chớ.
Cớ :chớ hay chửa , đ ây phi ên l à chớ vì từ này thông nghĩa hơn.
Hiềm : sợ ngại.
Sớm tối: Song viết .
Nghèo : nghèo ngặt .
BVN
Tả … núc nác : tả chữ Hán nghĩa là rửa . Núc nác là một thứ quả bẹt và dài , ăn để giải nhiệt , thanh nhiệt.
Mựa : chớ .
Song nhật : là ngày chẵn trong một tháng , cũng gọi là ngẫu nhật , trái nghĩa với chích nhật là ngày lẻ , cũng gọi là cơ nhật, hay đơn nhật.
Ý của song nhật mà Nguyễn Trãi hay Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng là ý thoát cảnh làm quan m à đi ở ẩn , như Lã Vọng , Tử Lăng .
Song viết hoặc song nhật mà các nhà phiên âm từ trứoc đến nay đã có những ý kiến khác nhau như song viết ( TVG-PT Đ ) với ý để nguyên coi như tồn nghi .
Suông nhạt (Đỗ Văn Hỷ ).
ĐDA: sớm tối , nô bộc …
Rong vát ( Nguyễn Tài Cẩn )
Song Cát (Đoàn Ngọc Phan )
Song nhật (BVN Nguyễn Quang Tuân : song nhât - chích nhật rất được thông dụng theo nghĩa và điển chữ Hán , không có thuật ngữ song viết .
Tuy nhiên tôi vẫn để ngỏ vấn đề này để mọi người có ý kiến bổ sung).
VVK
Vị cũng là mùi nhưng âm mùi âm điệu nhẹ hơn .
Song viết : suông nhạt dịch từ chữ thanh đạm , nhà nho nghèo thường nói “ .nho gia thanh đạm “.
MQL
Lặn mọc : không thể phiên âm lăn lóc như bản TVG
Lặn mọc : chìm nổi , nghĩa nôm của thăng trầm trong tiếng Hán có nghĩa : thăng trầm , chìm nổi bôn ba lặn lội cạy cục đeo đuổi .
Tả : nghĩa tiếng việt : giã ( dã ) : giã rượu , giã thuốc , nghĩa là làm cho nhạt rượu , nhạt thuốc , thuốc rượu bớt tác dụng . Cũng đọc là rửa “ Nước có chảy mà phiền chẳng rửa “ ( CPN ) .
Vị cũng đọc là mùi .
Núc nác : quả cây núc nác bẹt và dài , nước ăn để giảI nhiệt ( vị thuốc nam này còn có tên nam hoàng bá , có tác dụng “ tả can hoả “ . ý giải nhiệt hợp với giã lòng thanh trong câu thơ .
Tiết :bản TVG PS in nhầm thành thiết . Tiết cả : tiết lớn .
Tua : Nên , âm cổ chữ Hán tu
Mựa : chớ
Nỡ : KTH đề nghị phiên là nữa như trong Ngôn chí ( bài 1) Mựa nữa dời , chớ có dời xa .
Song viết: Hai chữ này đã có những khảo cứu rất công phu và giá trị, nhưng vẫn còn những kết luận khác nhau.

3-Nhận xét:
Có một số chữ chưa nhất trí,
giời/ trời
thiết / tiết
nhưng rõ ràng nhất là chữ Song Nhật – Song Viết . Chưa ngã ngũ, còn tồn nghi !?

4-Kết luận
Bài 10/254 có lẽ nên đọc như sau

Sang cùng khó bởi chưng giời
Lặn mọc làm chi cho nhọc hơi
Tả lòng thanh mùi núc nác
Vun đất ải luống mùng tơi
Liêm cần tiết cả tua hằng nắm
Trung hiếu niềm xưa mựa nỡ rời
Con cháu chớ mựa hiềm song viết ngặt
Thi thư thực ấy báu ngàn đời


Bài 10/254 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Chuyển Nôm ra quốc ngữ :
TVG-PTĐ
Cảnh tựa chùa chiền , lòng tựa thày (ĐDA thầy )
Có thân chớ phải lợi danh vây
Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén
Ngày vắng xem hoa bợ (ĐDA – VVK bẻ )cây
Cây cớm(ĐDA rợp- VVK cụm ) chồi cành chim kết tổ
Ao quang mấu (ĐDA mẩu ) ấu cá nên bầy ít nhiều tiêu sái lòng ngoại thế ( BVN- VVK ngoài thế )
Năng một ông này đẹp thú này

2- Chú thích
TVG-PTĐ
Thày : thày tu, sư ở chùa. Ý câu này nói : quang cảnh thì thanh tĩnh như cảnh chùa mà lòng người trong sạch như lòng thày chùa chân tu.
Vây: vây bọc trong vòng danh lợi.
Đớp nguyệt nghiêng chén : Nghiêng chén uống rượu như hút cả bóng trăng trong chén .
Bợ cây:bợ đỡ cành cây Rẽ cây : vạch cây ra hai bên để lấy lốI đi.
Cây cớm : Cây lá um tùm . ý nói lá cây che kín chồi cành , nên chim đến làm tổ .
Đành hanh : Đua giành nhau.
Mầm ấu : Mầm cây củ ấu .
Tiêu sái : Phóng khoáng thoát khỏi tục luỵ .
Ngoại thế : ngoài trần thế , ngoài đời bụI bặm .
đẹp : vui lòng thích thú .
ĐDA
Cảnh thì yên tĩnh như chùa chiền , lòng thì vô tâm như lòng thày tu
Bẻ cây : tỉa cây.
Rợp : Cây rập rạp chồi và cành cho nên chim ưa làm tổ. Chúng tôi cho rằng chữ này là do chữ điệp phiên là rợp lầm thành.Vả chăng chữ này thường phiên là khóm mà khóm ở đây không có nghĩa .
Mẩu ấu : củ ấu hình như cặp sừng trâu , đầu sừng cong như cái mẩu , gọi là mẩu của củ ấu . Mẩu ấu nghĩa là ủ ấu .Câu này nghĩa là ao quang không có củ ấu ( củ ấu thường mọc kín ao ) cho nên thấy rõ cá lội thành bầy .
Năng : Nghĩa là hay là có thể . Câu này có nghĩa là : Chỉ một ông này là có thể như thế , đẹp lòng với thú ấy .
BVN
Thầy : thầy chùa.
Vây: vây bọc , bị lệ thuộc vào danh lợi
mấu ấu : mầm cây củ ấu .
Tiêu sái : thành thơi , thoát tục , nhưng không vui.
Ngoại thế ; ngoài cuộc đời .
MQL : Cảnh tựa chùa chiền : cảnh thanh tĩnh như cảnh chùa( Tiêu nhiên hoạn huống tự tăng gia- NT chữ Hán Mạn hứng III và Cảnh ở tựa chiền lòng tựa sàng bài 117 câu 6).
Thầy : sư thầy , thầy chùa.
Vây ;vây bọc.
Hớp nguyệt nghiêng chén: Nghiêng chén uóng rượu như hớp cả bóng trăng ( trong chén ) vào miệng.
bả cây :TVG-PTĐ-BVN :bợ;ĐDA -VVK :bẻ
Chúng tôi theo Genibrei phiên là bả .
bả cây : chăm nom , săn sóc cây .
Rậm ; ĐDA cho rằng chữ cấm là do chữ Điệp lộn thành phiên là diệp- rợp.
Nghĩa cũng hợp , nhưng có vẻ chữ Nôm không ổn . Theo KTH nguyên văn viết là khóm . Truyền kỳ mạn lục thường dùng để dịch chữ tùng ( rậm rạp , bụI rậm).
Vậy đây là tiếng cổ khóm: rậm và phải đọc là khóm .
Phiên cấm là rậm . Cấm : rậm có cơ sở ngữ âm lịch sử . Nhiềutiếng địa phương âm R phát âm G ( chẳng hạn ở Bến Tre ). Trong những trưòng hợp khác R ghi bằng K Hà lương chia ( kỷ - ghẻ-rẻ) đường này ( CPN )
vậy cấm- gậm- rậm.
Mặt khác rậm đối với quang ở câu dưới .
Phiên là cớm và chú : cây lá um tùm như TVG , nhưng rậm thông hơn.
Mấu ấu : Củ ấu có những mấu nhọn.
Tiêu sái : phóng khoáng , thoát tục.
Năng : có thể, hay.

3- Nhận xét :
Có mấy chữ phiên âm khác nhau :
mấu / mẩu ấu
bả/bẻ
Cớm /rợp/cụm

4-Kết luận :
Cảnh tựa chùa chiền , lòng tựa thầy
Có thân chớ phải lợi danh vây
Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén
Ngày vắng xem hoa bả cây
Cây khóm chồi cành chim kết tổ
Ao quang mấu ấu cá nên bầy
Ít nhiều tiêu sái lòng ngoại thế
Năng một ông này đẹp thú này
Nguyễn Văn Hoa

Trả Lời Với Trích Dẫn
TaiLieuTongHop.Com là một cộng đồng mở chia sẻ tài liệu miễn phí hoạt động phi thương mại. Chúng tôi không chịu trách nhiệm với nội dung bài viết của thành viên. van mau - dankinhte - soan bai, top keywords, bua
Xin thông báo, bây giờ là 07:10 PM
|