Thư Viện Tài Liệu Tổng Hợp

TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu tổng hợp hoàn toàn miễn phí dành cho mọi người

Hãy sử dụng chức năng tìm kiếm bên dưới để tìm tài liệu trước khi post yêu cầu liên diễn đàn!

Loading

VanMau.VN - Thư viện văn mẫu Việt Nam
+ Viết bài mới  + Trả lời bài viết
 
LinkBack Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 04-12-2012, 10:33 AM
die die is offline
Senior Member
 
Tham gia: Apr 2012
Tổng số bài gởi: 8,890
Send a message via Yahoo to die



2. Quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình

CHƯƠNG II
QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÔN NHÂN - GIA ĐÌNH

I. KHÁI NIỆM QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

1. Khái niệm:

Trong giáo trình Lý luận về Nhà nước và pháp luật thì quan hệ pháp luật được hiểu là những quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh. Đối tượng điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình đó là các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản giữa vợ, chồng, giữa cha mẹ và con cái, cũng như các thành viên khác trong gia đình. Do vậy, quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình đó là các quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh,bao gồm các quan hệ nhân thân và tài sản phát sinh giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con....

Thông thường các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình chỉ giới hạn giữa các thành viên trong gia đình. Trong một số trường hợp chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình không còn là thành viên của một gia đình nữa (như việc cấp dưỡng giữa vợ, chồng sau khi ly hôn). Các chủ thể trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình gắn bó với nhau bởi yếu tố tình cảm nên cơ sở hôn nhan, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Do vậy, trong đa số các trường hợp các yếu tố này quyết định việc phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình.

2. Các đặc điểm quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình:

Về hình thức thì quan hệ Pháp luật hôn nhân và gia đình và quan hệ pháp luật dân sự đều bao gồm các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản được các quy phạm pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên, giữa quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình và quan hệ pháp luật dân sự có những đặc điểm khác biệt nhau:

Thứ nhất, quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình chủ yếu là các quan hệ nhân thân mang tính chất lâu dài, bền vững (nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ - chồng...). Ngược lại, quan hệ pháp luật dân sự chủ yếu là các quan hệ tài sản, luôn gắn liền với một tài sản nhất định (quan hệ sở hữu, hợp đồng dân sự hoặc thừa kế....).

Thứ hai, quyền và nghĩa vụ nhân thân trong Luật hôn nhân - gia đình không xuất phát từ tài sản, còn quyền, nghĩa vụ tài sản không mang tính chất đền bù ngang giá và gắn liền với nhân thân của các chủ thể không thể chuyển dịch cho người khác (việc cấp dưỡng nuôi con, cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn). Quan hệ tài sản trong luật Dân sự mang tính chất đền bù ngang giá, tính chất hàng hoá tiền tệ và có thể chuyển dịch cho người thứ ba thông qua thoả thuận. Luật dân sự cũng điều chỉnh những quan hệ nhân thân nhưng chủ yếu là các quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản (quyền tác giả đối với tác phẩm văn hoá nghệ thuật...) còn các quyền nhân thân khác là thứ yếu.

Thứ ba, các căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình dựa trên những sự kiện đặc biệt hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng nên mang tính chất lâu dài bền vững. Còn quan hệ pháp luật dân sự phát sinh thông qua sự thoả thuận theo hợp đồng dân sự hoặc theo quy định pháp luật như bồi thường thiệt hai ngoài hợp đồng nên chỉ tồn tại trong một thời hạn xác định.

Thứ tư, trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thì yếu tố tình cảm là nét đặc trưng gắn bó giữa các chủ thể, trong nhiều trường hợp nó quyết định xác lập, tồn tại hay chấm dứt quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. Trong quan hệ pháp luật dân sự thì các chủ thể tham gia nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của mình trên cơ sở thoả thuận hoặc do pháp luật quy định. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cũng xuất phát tình cảm như tặng cho, thừa kế theo di chúc... nhưng không mang tính chất lâu dài, bền vững như trong quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình.

Yếu tố tình cảm quyết định việc xác lập quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình (kết hôn, nhận nuôi con nuôi) tồn tại quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình (tình nghĩa vợ chồng) hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình (ly hôn, chấm dứt việc nuôi con nuôi).



II. Các yếu tố của quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình
Cũng như các quan hệ pháp luật nói chung, quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình bao gồm ba yếu tố: chủ thể, khách thể và nội dung.

1. Chủ thể:

Chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình chỉ có thể là cá nhân (thể nhân) nghĩa là con người xác định. Cá nhân muốn trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi.

- Năng lực pháp luật hôn nhân - gia đình là khả năng của cá nhân có quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình: quyền kết hôn (điều 35 BLDS), quyền ly hôn (điều 38 BLDS). Năng lực pháp luật hôn nhân và gia đình phát sinh từ lúc cá nhân sinh ra, nhưng trong một số trường hợp thì năng lực pháp luật hôn nhân và gia đình phát sinh từ khi cá nhân đạt đến độ tuổi nhất định (tuổi kết hôn đối với nam là 20, nữ là 18...). Trong trường hợp này năng lực pháp luật và năng lực hành vi hôn nhân và gia đình với các ngành luật khác, chẳng hạn trong luật dân sự cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi vẫn có quyền tham gia ký kết hợp đồng nhưng thông qua người đại diện hợp pháp. Song đối với quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thì việc thực hiện quyền kết hôn chỉ khi đạt độ tuổi luật định chứ không thể thông qua người đại diện.

- Năng lực hành vi là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình tạo ra cho bản thân những quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình. Nếu năng lực pháp luật về nguyên tắc phát sinh từ khi cá nhân sinh ra thì năng lực hành vi phát sinh khi đạt độ tuổi nhất định. Theo nguyên tắc chung thì cá nhân đủ 18 tuổi có khả năng nhận thức. Điều khiển hành vi thì được xem là có năng lực hành vi hôn nhân và gia đình. Trong một số trường hợp thì năng lực hành vi hôn nhân và gia đình có thể muộn hơn (tuổi kết hôn đối với nam là 20 tuổi) hoặc trong một số trường hợp thì phải có ý kiến của người dưới 18 tuổi như trẻ em từ 9 tuổi trở lên có đồng ý làm con nuôi hay không. Thay đổi nuôi con nuôi từ 9 tuổi trở lên phải xuất phát từ nguyện vọng của con (điều 71, 93 Luật Hôn nhân - gia đình).

Đối với người mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi thì không có năng lực hành vi hôn nhân và gia đình. Do vậy, các quyền và nghĩa vụ của những người này do người giám hộ thực hiện, trừ các quyền và nghĩa vụ gắn liền với thân nhân của các chủ thể không thể chuyển giao cho người khác được: quyền kết hôn, quyền ly hôn.

2. Khách thể của quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình:

Khách thể của quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình có thể là lợi ích nhân thân, các hành vi hoặc tài sản.

- Các lợi ích nhân thân: họ tên, nghề nghiệp, dân tộc, danh dự.

- Các hành vi: vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, giúp đỡ, chăm sóc lẫn; cha mẹ cấp dưỡng, chăm sóc con cái...

- Khách thể còn có thể là tài sản: tài sản chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.

Con cái không xem là khách thể của quan hệ hôn nhân và gia đình.

3. Nội dung của quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình:

Nội dung của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình bao gồm những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể như nghĩa vụ, quyền nhân thân và tài sản giữa vợ - chồng; cha mẹ - các con; cũng như các thành viên khác trong gia đình bao gồm:

- Các nghĩa vụ và quyền nhân thân: các nghĩa vụ và quyền nhân thân có đặc trưng hoàn toàn không có nội dung kinh tế như nghĩa vụ chung thuỷ, thương yêu giữa vợ, chồng; quyền lựa chọn nghề nghiệp, chỗ ở...

- Các nghĩa vụ và quyền tài sản: nghĩa vụ cấp dưỡng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất.... Các nghĩa vụ và quyền tài sản có đặc điểm gắn liền với nhân thân của các chủ thể không thể chuyển dịch cho các chủ thể khác thông qua thoả thuận.

- Quyền chủ thể các các chủ thể pháp luật hôn nhân và gia đình theo bản chất pháp lý có thể là quyền tương đối hoặc quyền tuyệt đối.

Quyền tương đối nghĩa là tương ứng với quyền đồng thời là nghĩa vụ, chủ thể của Luật Hôn nhân - gia đình luôn luôn tương ứng với một chủ thể nghĩa vụ quyền xác định và ngược lại. Chẳng hạn: điều 36 Luật hôn nhân - gia đình 2000 quy định: cha mẹ có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con, con có nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ, đặc biệt khi ốm đau, già yếu...

Quyền tuyệt đối: chủ yếu quyền xác định, còn chủ thể nghĩa vụ không xác định. Chẳng hạn sở hữu riêng của vợ hoặc chồng (xác định) còn vợ hoặc chồng cũng như những người khác có nghĩa vụ tôn trọng sở hữu tài sản riêng đó. Quyền của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất vừa là quyền tuyệt đối vừa là quyền tương đối.


III. Thực hiện luật hôn nhân - gia đình và bảo vệ chế độ luật hôn nhân và gia đình
1. Thực hiện Luật hôn nhân - gia đình:

Việc thực hiện Luật hôn nhân và gia đình có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm đưa những quy định của pháp luật vào thực tiễn cuộc sống, chỉ khi đó pháp luật mới thực sự có ý nghĩa. Chính vì vậy, Luật hôn nhân và gia đình đã xác định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với hôn nhân và gia đình (điều 3 của Luật). Tuy nhiên, việc thực hiện Luật Hôn nhân - gia đình có những đặc điểm riêng:

- Các nghĩa vụ và quyền hôn nhân và gia đình tồn tại cùng với sự tồn tại của gia đình, biểu hiện cụ thể trong gia đình. Do vậy, pháp luật quy định khi thực hiện các nghĩa vụ và quyền hôn nhân và gia đình phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình.

- Trong những trường hợp nhất định pháp luật hạn chế khả năng sử dụng quyền của các chủ thể trong một thời hạn nhất định: hạn chế quyền xin ly hôn của người chồng (điều 41 của Luật Hôn nhân - gia đình 1986; điều 85 Luật Hôn nhân - gia đình 2000). Hạn chế quyền cha mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục và quản lý tài sản riêng của các con chưa thành niên (điều 26 Luật Hôn nhân - gia đình 1986; điều 41 Luật Hôn nhân - gia đình 2000).

- Việc thực hiện các nghĩa vụ và quyền của các chủ thể được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động.

- Việc đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ và quyền hôn nhân và gia đình được tiến hành bằng nhiều cách thức khác nhau: khuyến khích các chủ thể tự giác thực hiện, cưỡng chế khi cần thiết...

2. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình:

- Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình pháp luật quy định cấm các chủ thể không được thực hiện những hành vi trái luật như cấm tảo hôn, cấm người đang có vợ hoặc chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; cấm ngược đãi, hành hạ ông bà, cha mẹ...

- Đối với những hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân - gia đình phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh đúng pháp luật nhằm giáo dục phòng ngừa chung và trừng trị nghiêm khắc người vi phạm.

Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình thì tuỳ theo từng trường hợp có thể áp dụng biện pháp khác nhau không chỉ được quy định trong pháp luật hôn nhân và gia đình mà còn được quy định tại các ngành luật khác như Luật hình sự, Luật hành chính.


IV. Các căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình
Căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình đó là các sự kiện pháp lý bao gồm: sự kiện pháp lý và hành vi pháp lý.

1. Sự kiện pháp lý:

Sự kiện pháp lý là những sự kiện xảy ra trong thực tế mà theo đó các quan hệ Pháp luật hôn nhân và gia đình được áp dụng (làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình). Chẳng hạn: đứa trẻ sinh ra làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha mẹ với các con; khi một bên vợ hoặc chồng chết trước làm chấm dứt quan hệ vợ chồng. Ngoài ra sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt thì còn một sự kiện phục hồi quan hệ hôn nhân và gia đình chấm dứt trước đó như trường hợp một người bị tuyên bố là đã chết trở về thì đương nhiên phục hồi quan hệ vợ chồng nếu người đó chưa kết hôn với người khác hoặc phục hồi quan hệ giữa cha mẹ và các con. Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định: "Khi toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết mà vợ chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân đương nhiên được phục hồi; trong trường hợp vợ hoặc chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân sau có hiệu lực".

2. Hành vi pháp lý:

Hành vi pháp lý là những hành vi có ý thức của con người được pháp luật quy định trước cho những hậu quả pháp lý nhất định. Hành vi của chủ thể thể hiện ý chí của chủ thể nhất định, nhưng trong nhiều trường hợp hoàn toàn không có giá trị (như cha, mẹ có đồng ý cấp dưỡng nuôi con hay không). Ngược lại một số hành vi có ý chí của chủ thể lại là điều kiện bắt buộc trong cấu thành sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình (xin đăng ký kết hôn hoặc xin ly hôn....).

Cấu thành sự kiện đó là tổng hợp các sự kiện pháp lý bao gồm ít nhất từ 2 sự kiện trở lên, nếu thiếu một trong hai sự kiện đó thì cấu thành sự kiện không có giá trị pháp lý. Chẳng hạn: Nam nữ tự nguyện xin đăng ký kết hôn (hành vi) và phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho đăng ký kết hôn (nếu xét thấy đủ điều kiện luật định). Khi có hai sự kiện trên mới làm phát sinh quan hệ vợ chồng hợp pháp. Trong trường hợp thiếu sự tự nguyện thì việc kết hôn trái pháp luật, nếu không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Trả Lời Với Trích Dẫn
TaiLieuTongHop.Com là một cộng đồng mở chia sẻ tài liệu miễn phí hoạt động phi thương mại. Chúng tôi không chịu trách nhiệm với nội dung bài viết của thành viên. van mau - dankinhte - soan bai, top keywords, bua
Xin thông báo, bây giờ là 01:31 PM
|